Hiển thị các bài đăng có nhãn THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2016

doanh nghiệp Việt Nam nên sử dụng phương thức thanh toán nào để bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của mình, nhằm hạn chế các rủi ro trong những giao dịch thương mại quốc tế

LỜI NÓI ĐẦU
Thanh toán quốc tế là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân.Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng của giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. Thanh toán quốc tế góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hoá tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ khiến cho quan hệ lưu thông hàng hoá tiền tệ giữa người mua và người bán diễn ra trôi chảy, hiệu quả hơn.[1] Chính vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần chọn phương thức thanh toán nào phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp mình và nhằm đảm bảo các rủi ro xảy ra. Với yêu cầu thực tế đó em xin chọn đề tài: “Theo anh (chị), doanh nghiệp Việt Nam nên sử dụng phương thức thanh toán nào để bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của mình, nhằm hạn chế các rủi ro trong những giao dịch thương mại quốc tế.”
NỘI DUNG
Đánh giá chung về tiềm năng kinh tế cũng như quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, theo VCCI cho biết năm 2014, cả nước có 764.374 DN đăng ký thành lập theo Luật DN, trong đó có 391.547 DN đang hoạt động. Trong 10 tháng của năm có thêm 60.023 DN thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 352.000 tỉ đồng.Trong số các DN đang hoạt động, tỉ lệ DN ngoài nhà nước chiếm 96%. Các DN có quy mô lớn chỉ chiếm 2%, số DN có quy mô vừa cũng ở mức tương tự, còn lại 96% là DN có quy mô nhỏ và siêu nhỏ.Riêng DN siêu nhỏ (theo tiêu chí có dưới 10 lao động) chiếm tới 67%. Do quy mô nhỏ nên có rất nhiều DN Việt Nam chưa đủ năng lực cạnh tranh để xuất khẩu sang thị trường nước ngoài hoặc tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu.[2]
Như vậy, với quy mô kinh tế của các doanh nghiệp Việt Nam tương đối nhỏ bạn hàng chủ yếu của các doanh nghiệp Việt Nam là Mỹ, Nhật, Singapo, Trung Quốc và các nước Đông Nam á, có những thói quen thanh toán riêng. Các phương thức thanh toán quốc tế mà các Doanh nghiệp Việt Nam nên lựa chọn không có công thức chung áo dụng cho tất cả các doanh nghiệp mà các doanh nghiệp dựa vào mối quan hệ với bạn hàng tiềm lực kinh tế doanh nghiệp để lựa chọn các phương thức thanh toán sau:
1.      Phương thức chuyển tiền (remittance)
Phương thức chuyển tiền là việc một người (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển số tiền nhất định cho người khác (người thụ hưởng) ở địa điểm nhất định. Phương thức chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai cách:
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer – T/T)
- Chuyển tiền bằng thư (Mail transfer – M/T)
Đối với phương thức chuyển tiền có những ưu điểm nổi trội sau: Thanh toán đơn giản quy trình nghiệp vụ dễ dàng; Tốc độ nhanh chóng (nếu thực hiện bằng T/T); Chi phí thanh toán T/T qua ngân hàng tiết kiệm hơn thanh toán L/C; Bên mua không bị đọng vốn ký quỹ L/C ; Chứng từ hàng hoá không phải làm cẩn thận như thanh toán L/C.
Chính vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam chọn phương thức thanh toán này sẽ có những lợi thế: Không phải chịu sức ép về rủi ro phát sinh và có thể thu được tiền hàng ngay nếu sử dụng phương thức điện chuyển tiền; Chuyển tiền trả trước thuận lợi cho nhà xuất khẩu vì nhận được tiền trước khi giao hàng nên không sợ rủi ro, thiệt hại do nhà nhập khẩu chậm trả các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nên áp dụng phương thức trả tiền trước; Chuyển tiền trả sau thuận lợi cho doanh nghiệp nhập khẩu Viêt Nam vì nhận được hàng trước khi giao tiền nên không sợ bị thiệt hại do nhà xuất khẩu giao hàng chậm hoặc hàng kém chất lượng; Trong phương thức chuyển tiền, Ngân hàng chỉ là trung gian thực hiện việc thanh toán theo uỷ nhiệm để hưởng thủ tục phí (hoa hồng) và không bị ràng buộc gì cả.
Tuy nhiên, phương thức chuyển tiền chứa đựng rủi ro lớn nhất vì việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua. Do đó, nếu dùng phương thức này quyền lợi của tổ chức xuất khẩu không đảm bảo.Vì vậy chỉ sử dụng phương thức này trong trường hợp hai bên mua bán đã có sự tin cậy, hợp tác lâu dài, tín nhiệm lẫn nhau và thanh toán các khoản tương đối nhỏ như thanh toán chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu, chi phí vận chuyển bảo hiểm, bồi thường thiệt hại, hoặc dùng trong thanh toán phí mậu dịch, chuyển vốn, chuyển lợi nhuận đầu tư về nước…
Phương thức trả tiền trước mang lại nhiều rủi ro cho người mua vì có thể người xuất khẩu không chuyển hàng ngay cả khi đã được thanh toán, làm cho nhà nhập khẩu rơi vào tình trạng bị động; Phương thức này gây nhiều khó khăn về dòng tiền và tăng rủi ro cho người mua cho nên thông thường họ ít khi chấp nhận trả tiền trước khi nhận được hàng.
Đối với phương thức chuyển tiền trả sau sẽ bất lợi cho nhà xuất khẩu bởi vì nếu nhà nhập khẩu chậm lập lệnh chuyển tiền (do gặp khó khăn về tài chính hay thiếu thiện chí thanh toán) gửi cho ngân hàng thì nhà xuất khẩu sẽ chậm nhận được tiền thanh toán mặc dù hàng hóa đã chuyển đi và nhà nhập khẩu đã có thể nhận được và sử dụng hàng hóa rồi.Trường hợp nhà nhập khẩu không nhận hàng thì nhà xuất khẩu phải mất mất chi phí vận chuyển hàng, phải bán rẻ hoặc tái xuất.Do đó, nhà xuất khẩu bị thiệt hại do thu hồi vốn chậm ảnh hưởng đến sản xuất trong tương lai trong khi ngân hàng không có nhiệm vụ và cách thức gì để đôn đốc nhà nhập khẩu nhanh chóng chuyển tiền chi trả nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu.
Đối với phương thức chuyển trả trước bất lợi cho nhà nhập khẩu vì đã chuyển tiền thanh toán cho nhà xuất khẩu nhưng chưa nhận được hàng và đang trong tình trạng chờ đợi nhà xuất khẩu giao hàng. Nếu vì lí do gì đó khiến nhà xuất khẩu chậm trễ giao hàng, nhà nhập khẩu sẽ bị nhận hàng trễ.
2.      Phương thức nhờ thu (Collection of Payment)
Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà nhà xuất khẩu sau khi cung cấp hàng hóa hay dịch vụ ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền nhà nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu và chứng từ hàng hóa do nhà nhập khẩu lập.
Các thành phần chủ yếu tham gia phương thức thanh toán này như sau:Người xuất khẩu; Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu; Ngân hàng đại lý của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu (đó là ngân hàng quốc gia của người nhập khẩu); Người nhập khẩu.
Phương thức nhờ thu được phân ra làm hai loại như sau:
- Nhờ thu phiếu trơn: Người xuất khẩu sau khi xuất chuyển hàng hoá, lập các chứng từ hàng hoá gửi trực tiếp cho người nhập khẩu (không qua ngân hàng), đồng thời uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra. Phương thức thanh toán này ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu.
-  Nhờ thu kèm chứng từ: là phương thức trong đó người xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu, không những chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá, gửi kèm theo với điều kiện là người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn, thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ hàng hoá để đi nhận hàng.Theo phương thức này ngân hàng không chỉ là người thu hộ tiền mà còn là người khống chế bộ chứng từ hàng hoá. Với cách khống chế này quyền lợi của người xuất khẩu được đảm bảo hơn.
Các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng phương thức nhờ thu khi: Hai bên thực sự tin cậy lẫn nhau; Người mua sẵn sàng thanh toán và có khả năng thanh toán; Điều kiện kinh tế và chính trị của nước người mua ổn định;  Chính phủ nước người mua không có những biện pháp kiểm soát ngoại hối. Sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ quyền lợi của tổ chức xuất khẩu có  được  đảm bảo hơn không bị mất hàng nếu bên nhập khẩu không thanh toánvai trò ngân hàng  được nâng cao thêm trách nhiệm. Chỉ thị nhờ thu là văn bản mang tính chất pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa các bên tham gia nghiệp vụ theo nguyên tắc URC ràng buộc tất cả các bên tham gia nhiệp vụ thừ khi có thỏa khác hoặc trái với pháp luật hay các quy định của quốc gia.
Mặc dù phương thức nhờ thu được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế nhưng phương thức này vẫn có những rủ ro: Phương thức nhờ thu trơn rất ít được áp dụng trong thanh toán tiền hàng vì không đảm bảo quyềm lợi cho cả hai bên nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu do việc nhân hàng và thanh toán tách rời nhau vì vậy chỉ được sử dụng trong thanh toán phí hoặc nhờ thu Sec giữa các ngân hàng; Phương thức nhờ thu chứng từ thì việc thu tiền của nhà xuất khẩu vẫn chưa chắc chắn. Tuy còn giữ quyền kiểm soát hàng hóa sau khi giao hàng nhưng nếu nhà nhập khẩu không nhận hàng hoặc không trả tiền sẽ có rủi ro; Chi phí nhờ thu trả ngân hàng bên nào chịu? Nếu thu không được thì bên xuất khẩu phải thanh toán phí cho cả hai ngân hàng;  Tốc độ thanh toán vẫn chậm, rủi ro cho bên xuất khẩu vẫn lớn.
3.      Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận mà trong đó một ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép ngân hàng khách chi trả hoặc chấp nhận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều khoản và điều kiện quy định trong thư tín dụng được thực hiện đúng và đầy đủ.
Các loại thư tín dụng chủ yếu là:
- Thư tín dụng có thể huỷ ngang: Đây là loại thư tín dụng mà sau khi đã được mở thì việc bổ sung sửa chữa hoặc huỷ bỏ có thể tiến hành một cách đơn phương.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang: Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở thì việc sữa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ chỉ được ngân hàng tiến hành theo thoã thuận của tất cả các bên có liên quan. Trong thương mại quốc tế thư tín dụng này được sử dụng phổ biến nhất
- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận: Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, được một ngân hàng khác đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở thư tín dụng.
- Thư tín dụng chuyển nhượng: Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả hoàn toàn hay trả một phần của thư tín cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.[3]
Trong phương thức tín dụng chứng từ ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ, mà còn là người đại diện bên nhập khẩu thanh toán tiền cho bên xuất khẩu, đảm bảo cho tổ chức xuất khuẩu được khoản tiền tương ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng,  đồng thời  đảm bảo cho tổ chức nhập khẩu nhận  được số lượng, chất lượng hàng hoá tương ứng với số tiền mình đã thanh toán.
Với những ưu điểm đó phương thức thanh toán chứng từ đã trở thành phương thức thanh toán hữu hiệu nhất cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu.Về phía nhà xuất khẩu: rủi ro ít nhất, ngân hàng phát hành/ ngân hàng xác nhận có trách nhiệm thanh toán tiền hàng nếu bộ chứng từ phù hợp với nội dung trong L/C; Về phía nhà nhập khẩu: được đảm bảo việc chuyển hàng
Tuy nhiên điểm trừ đối với phương thức này là phương thức thanh toán này tốn nhiều thời gian do phải thực hiện qua nhiều bước,việc lập chứng từ đòi hỏi phải có độ chính xác cao, ít sai sót và kiểm tra chứng từ tiến hành qua nhiều bên nếu có sai sát phải sửa lại làm cho nhà nhập khẩu lâu nhận được chứng thừ thanh toán để nhận hàng, tốn kém chi phí cho việc bào quản hàng hóa ở cảng nhập khẩu; nhà xuất khẩu chập nhận được tiền thanh toán. Ngoài ra, phương thức này chi phi giao dịch với ngân hàng lớn.
4.      Các phương thức thanh toán khác
Phương thức giao chứng từ nhận tiền (CAD: Cash Against Documents) là phương thức thanh toán mà trong tổ chức nhập khẩu trên cơ sở hợp đồng mua bán, yêu cầu ngân hàng bên xuất khẩu mở cho mình một tài khoản tín thác (Trust account)  để thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu xuất trình đầy đủ chứng từ theo những thoả thuận.Phương thức này thủ tục thanh toán cho bên xuất khẩu nhanh chong và đơn giản. Nhà nhập khẩu không Việc mua bán hàng hóa được nhà nhập khẩu ủy thác cho ngân hàng trực tiếp giao dịch với nhà xuất khẩuPhương pháp này được áp dụng trong trường hợp tổ chức nhập khẩu rất tin tưởng nhà xuất khẩu và tổ chức nhập khẩu có văn phòng đại diện tại nước xuất khẩu.
Phương thức ghi sổ (open account): Đây thực chất là một hình thức mua bán chịu. Phương thức này hoàn toàn có lợi cho nhà nhập khẩu (người được ghi sổ). Nhà xuất khẩu sẽ phải gánh chịu rủi ro khi bên nhập khẩu không thanh toán hoặc chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.Để hạn chế rủi ro, chỉ áp dụng phương thức này khi cả hai bên là các bạn hàng có mối quan hệ làm ăn lâu dài, thực sự tin cậy lẫn nhau. Để bảo đảm an toàn cho nhà xuất khẩu, các bên có thể áp dụng biện pháp bảo đảm như thư bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng dự phòng, đặt cọc…
Phương thức Bảo lãnh và Tín dụng dự phòng: Bảo lãnh hoặc thư tín dụng dự phòng được sử dụng kết hợp với các phương thức thanh toán khác để tăng độ an toàn cho các bên. Do vậy, trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, đặc biệt đối với các hàng hóa có giá trị lớn như máy móc, thiết bị các bên cũng nên xem xét và áp dụng các biện pháp bảo lãnh hoặc thư tín dụng dự phòng.[4]
KẾT LUẬN
Như vậy, đối với từng doanh nghiệp có những đặc điểm và lợi thế cụ thể, cũng như đặc điểm của mối quan hệ đối tác quốc tế lựa chọn những phương thức thanh toán khác nhau. Đồng thời trong mối quan hệ mua bán quốc tế các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhập khẩu hay xuất khẩu, số lượng hang hóa và số tiền thanh toán bao nhiêu để lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp. Tuy nhiên, đánh giá tổng thể đối với các doanh nghiệp Việt nam và các phương thức thanh toán quốc thế thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của mình, nhằm hạn chế các rủi ro trong những giao dịch thương mại quốc tế.



[1] https://voer.edu.vn/m/thanh-toan-quoc-te-va-vai-tro-cua-thanh-toan-quoc-te/6f9b7fc9
[2] Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) 2014
[3] “Các phương thức thanh toán quốc tế trong kinh doanh, xuất nhập khẩu” - bài đăng trên trang http://thuongmaiwto.com/.
[4] “ ĐIỀU KIỆN VÀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ” - Lê Minh Tuấn, Chủ tịch, luật sư điều hành/   Chairman, Executive lawyer.

KHẢ NĂNG VIỆT NAM THAM GIA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980

KHẢ NĂNG VIỆT NAM THAM GIA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980

1. Những lợi ích của việc Việt Nam gia nhập CISG

Việc gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ đem lại cho Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam những lợi ích đáng kể, bao gồm cả các lợi ích kinh tế (đứng từ góc độ doanh nghiệp) và lợi ích về pháp lý (đứng từ góc độ của hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật).

a. Lợi ích đối với hệ thống pháp luật Việt Nam

- Thứ nhất, việc gia nhập CISG sẽ giúp thống nhất pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam với nhiều quốc gia trên thế giới.
Với tính chất là một văn bản thống nhất luật, Công ước Viên 1980 đã thống nhất hoá được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Vì vậy, khi Việt Nam gia nhập CISG, Việt Nam cũng sẽ được hưởng những lợi ích do văn bản thống nhất luật này mang lại, đó là giảm bớt xung đột pháp luật trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, tạo khung pháp luật thống nhất, hiện đại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, một lĩnh vực vẫn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại quốc tế của Việt Nam.
Những lợi ích này càng được nhấn mạnh khi hầu hết các cường quốc thương mại trên thế giới đều đã gia nhập Công ước Viên, trong đó có rất nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt Nam như các quốc gia EU, Hoa Kỳ, Canada, Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo... Các công ty, doanh nghiệp của các nước này đã áp dụng và đã quen áp dụng Công ước Viên cho các hợp đồng mua bán hàng hoá ký với các đối tác nước ngoài và họ sẽ yên tâm hơn về nguồn luật áp dụng đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa ký với các đối tác Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập Công ước này.
- Thứ hai, việc gia nhập CISG sẽ đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam.
Trên thực tế, mức độ tham gia của Việt Nam vào các Điều ước quốc tế đa phương quan trọng có ảnh hưởng đến thương mại đang ở mức thấp, dưới mức trung bình của khu vực và trên toàn thế giới[1]. Nhiều chuyên gia nước ngoài cũng đã đưa ra khuyến nghị Việt Nam cần gia nhập Công ước Viên 1980 trong thời gian sớm nhất, vì đây là một trong những công ước quốc tế đa phương có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với nền thương mại toàn cầu. Gia nhập Công ước Viên 1980 sẽ giúp tăng cường mức độ của Việt Nam tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, từ đó cũng tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam.
Các quốc gia ASEAN, tại Diễn đàn Pháp luật ASEAN lần thứ ba[2] đã khuyến nghị các quốc gia gia nhập Công ước Viên 1980 nhằm hài hòa hóa pháp luật về mua bán hàng hóa trong khuôn khổ ASEAN. Việc Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN khác gia nhập Công ước này cũng sẽ giúp hài hòa hóa pháp luật về mua bán hàng hóa trong khuôn khổ ASEAN hướng tới mục tiêu xây dựng cộng đồng Kinh tế ASEAN như đã hoạch định trong Hiến chương ASEAN.
- Thứ ba, việc gia nhập CISG giúp hoàn thiện pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng và pháp luật về mua bán hàng hóa nói chung của Việt Nam.
Khi Việt nam gia nhập CISG thì các điều khoản của Công ước này sẽ trở thành các quy phạm của pháp luật Việt Nam áp dụng cho các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế có liên quan. Đây là một cách thức hiệu quả và ít tốn kém để hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế. Ngoài ra, tại các quốc gia thành viên của Công ước Viên 1980, người ta nhận thấy rằng quá trình áp dụng Công ước có tác động tích cực tới việc hoàn thiện pháp luật mua bán hàng hóa quốc gia[3]. Tại Việt Nam, trong quá trình soạn thảo Luật Thương mại năm 2005, các nhà làm luật đã tham khảo các điều khoản của CISG. Khi Việt Nam gia nhập CISG, sự ảnh hưởng của CISG đến việc hoàn thiện pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam sẽ càng rõ nét và thuận lợi hơn nữa.
- Thứ tư, gia nhập Công ước Viên 1980 cũng sẽ là điều kiện để việc giải quyết tranh chấp, nếu có, từ các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thuận lợi hơn
Việt Nam là thành viên CISG, việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoặc có liên quan đến nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bởi Tòa án hoặc trọng tài tại Việt Nam trở nên thống nhất và dễ dàng hơn, bởi với CISG nguồn luật được giải thích và áp dụng thống nhất hơn. Với phạm vi áp dụng rộng của CISG, các doanh nghiệp, trọng tài viên, thẩm phán có thể sẽ không cần xem xét, nghiên cứu và cân nhắc bất kỳ nguồn luật nước ngoài nào khác ngoài CISG. Việc giải thích và áp dụng CISG dễ dàng hơn rất nhiều so với việc viện dẫn đến một hệ thống luật quốc gia, bởi việc diễn giải Công ước có thể sử dụng các nguồn tham khảo phong phú và rất hữu ích, các Bình luận Chính thức của Ban Tư vấn CISG,[4] các án lệ của CISG đăng tải trên hệ thống dữ liệu của UNCITRAL, cũng như hàng ngàn bài viết học giả được đăng tải trên trang web chuyên về CISG (PACE).

b. Lợi ích đối với các doanh nghiệp Việt Nam

- Thứ nhất, khi Việt Nam gia nhập CISG, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiết kiệm được chi phí và tránh được các tranh chấp trong việc lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng
Theo Điều 1.1.a. của Công ước Viên 1980, Công ước này sẽ được áp dụng cho các hợp đồng mua bán giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia thành viên, trừ khi các bên thỏa thuận về việc không áp dụng Công ước này. Như vậy, khi Việt Nam trở thành thành viên của Công ước Viên 1980, các thương nhân Việt Nam và các đối tác của họ tại 77 quốc gia khác trên thế giới (con số này sẽ tăng trong thời gian tới) sẽ có một khung pháp lý thống nhất, được áp dụng một cách tự động cho hợp đồng của mình. Các công ty, doanh nghiệp Việt Nam khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhờ vậy, sẽ tránh được một vấn đề luôn gây tranh cãi và khó khăn trong đàm phán, đó là vấn đề lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Tránh được vấn đề này, các công ty, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có những lợi ích sau đây:
+ Giảm bớt chi phí và thời gian đàm phán để thống nhất lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Đây là lợi ích lớn nhất khi các bên đã có một nguồn luật thống nhất để áp dụng. Dù các bên trong hợp đồng không thỏa thuận gì về luật áp dụng thì Công ước Viên 1980 vẫn được tự động áp dụng cho hợp đồng mua bán giữa các bên.
+ Giảm bớt các khó khăn và chi phí có thể phát sinh do luật được lựa chọn để áp dụng cho hợp đồng là luật nước ngoài. Nếu phải áp dụng luật nước ngoài thương nhân Việt Nam có thể mất thời gian để tự mình tìm hiểu hoặc mất chi phí thuê tư vấn luật để tìm hiểu luật nước ngoài đó. Ngoài ra, luôn tiềm ẩn những rủi ro pháp lý cho thương nhân Việt Nam do thiếu sự hiểu biết đầy đủ về luật nước ngoài cũng như cách áp dụng luật nước ngoài. Trong khi đó, chi phí và thời gian để tìm hiểu CISG là ít hơn rất nhiều so với luật quốc gia nước ngoài, vì các doanh nghiệp/luật sư tư vấn có thể tham khảo rất dễ dàng (và miễn phí) các hệ thống cơ sở dữ liệu vô cùng phong phú về CISG.
+ Tránh được việc phải sử dụng đến quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế để xác định luật áp dụng cho hợp đồng. Khi các bên trong hợp đồng không lựa chọn, hoặc không thể lựa chọn được luật áp dụng cho hợp đồng, cơ quan giải quyết tranh chấp (tòa án, trọng tài) dẫn chiếu đến quy phạm luật xung đột để chọn một nguồn luật nhằm giải quyết tranh chấp có liên quan. Quy phạm luật xung đột thường là khác nhau ở các quốc gia, vì thế, việc áp dụng các quy phạm này thường dẫn đến tính khó dự đoán trước được về nguồn luật áp dụng, gây khó khăn đáng kể cho các bên tranh chấp.
Đáng lưu ý là CISG chỉ áp dụng nếu các bên trong hợp đồng không có thỏa thuận khác. Vì vậy, quyền tự do lựa chọn luật áp dụng của các bên vẫn là “toàn vẹn” và CISG không áp đặt hay làm ảnh hưởng đến quyền tự quyết trong lựa chọn luật áp dụng của các bên.
Cần phải nhấn mạnh rằng, những lợi ích nói trên có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh quốc tế. Những doanh nghiệp này ít có điều kiện tiếp cận các dịch vụ tư vấn pháp lý cũng như có ít thế và lực trong vấn đề đàm phán lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng, vì thế thường gặp nhiều rủi ro pháp lý liên quan đến vấn đề này. Những lợi ích do một văn bản thống nhất luật như Công ước Viên 1980 đem lại cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng lớn thì chúng ta lại càng khẳng định những lợi ích mà Công ước này đem lại cho Việt Nam, một quốc gia với hơn 90% các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
 - Thứ hai, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có được một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và có căn cứ hợp lý để giải quyết tranh chấp nếu phát sinh, từ đó có điều kiện cạnh tranh công bằng hơn trên trường quốc tế
Như đã phân tích trong Phần I, Công ước Viên 1980, với 101 điều khoản, được đánh giá là một nguồn luật hiện đại, phù hợp với thực tiễn kinh doanh quốc tế. Công ước Viên 1980 đã đưa ra những giải pháp nhằm giải quyết hầu hết mọi vấn đề pháp lý có thể phát sinh trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: giá trị pháp lý, thời hạn hiệu lực của chào hàng, của chấp nhận chào hàng; quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua; các biện pháp mà một bên có được khi bên kia vi phạm hợp đồng…
Nếu các bên giao kết hợp đồng trên một cơ sở luật chung thì sẽ dễ dàng đánh giá các lựa chọn, chào giá khác nhau trên thị trường về rủi ro, độ chặt và nghĩa vụ trong hợp đồng. Điều này làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, mang lại lợi ích về mặt kinh tế không nhỏ. Ngoài ra, theo đánh giá của các luật gia và các chuyên gia về luật hợp đồng thương mại quốc tế, các điều khoản của Công ước Viên 1980 còn tạo được sự bình đẳng về nội dung giữa người mua và người bán trong quan hệ hợp đồng[5], giúp các bên bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Vì thế, dù là bên bán hay bên mua, Công ước này đều trở thành một khung pháp lý hữu hiệu và an toàn để giải quyết các tranh chấp phát sinh, nếu có.
- Thứ ba, việc áp dụng Công ước Viên 1980 sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam tránh được những tranh chấp phát sinh trong kinh doanh quốc tế

Việt Nam đang trên con đường hội nhập một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh các hoạt động thương mại quốc tế, trong đó thương mại hàng hóa vẫn là hoạt động sôi động nhất. Trong quá trình tiến hành mua bán trao đổi hàng hóa với các đối tác nước ngoài, việc áp dụng các văn bản luật quốc gia sẽ gây nhiều khó khăn, bất lợi, làm phát sinh những xung đột pháp luật với các nước khác và khi giải quyết tranh chấp cũng khó khăn. Khi gia nhập Công ước Viên 1980, Việt Nam sẽ thống nhất nguồn luật áp dụng trong mua bán hàng hóa quốc tế với các nước đối tác khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Khi đó, các thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài sẽ cùng chung “tiếng nói”, cùng chung một cơ sở pháp lý và các mối quan hệ mua bán hàng hóa sẽ chặt chẽ và rộng mở hơn nữa, tránh được tranh chấp phát sinh.

2. Những vấn đề cần lưu ý khi Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng CISG tại các quốc gia thành viên cho thấy mặc dù việc gia nhập CISG hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích lớn như trên, khi gia nhập Việt Nam cũng cần lưu ý một số điểm sau:
CISG chưa có các quy phạm điều chỉnh các vấn đề pháp lý mới phát sinh trong thương mại quốc tế. Được soạn thảo và thông qua từ cách đây 30 năm, CISG chưa dự đoán và do đó chưa đưa vào các quy định của mình những vấn đề pháp lý mới phát sinh sau này, ví dụ các quy phạm pháp lý liên quan đến thương mại điện tử. Việc sửa đổi Công ước để bổ sung các nội dung pháp lý này có lẽ còn cần một thời gian dài nữa (Công ước Viên 1980 không có cơ chế sửa đổi, điều chỉnh thường xuyên để phù hợp với sự thay đổi cán cân lợi ích của các thành viên và do đó mỗi thay đổi trong Công ước sẽ phải được sự đồng ý, phê chuẩn của tất cả các thành viên). Vì vậy các doanh nghiệp phải bằng lòng với nội dung hiện tại của CISG và vẫn cần những hệ thống pháp luật khác để xử lý các vấn đề mới dù đã chọn CISG cho hợp đồng của mình.
Thực tế, dù thành công ở hầu hết các nước thành viên, ở một vài nước khác, CISG không đạt được những thành công như mong đợi. Điển hình nhất là tại Hoa Kỳ, CISG không được sử dụng với tần suất như mong đợi. Trường hợp của Hoa Kỳ chỉ là ngoại lệ trong số rất nhiều nước đã áp dụng thành công CISG. Tuy nhiên, lưu ý về trường hợp của Hoa Kỳ sẽ đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với đối tác Hoa Kỳ. Có thể việc gia nhập Công ước này không mang lại nhiều lợi ích như suy đoán đối với các hợp đồng với đối tác này, đặc biệt khi tranh chấp được xét xử tại Hoa Kỳ.
Hơn nữa, dù rất nhiều đối tác thương mại lớn trên thế giới đã là thành viên CISG, vẫn còn một số nước khác chưa gia nhập Công ước này. Như đã nêu, dù CISG có số lượng thành viên đông đảo, bao gồm những đối tác thương mại lớn trên thế giới, vẫn còn một số đối tác quan trọng chưa tham gia Công ước (đáng kể nhất là Vương quốc Anh và các nước khu vực ASEAN). Vì vậy CISG sẽ không phát huy hiệu quả trong những trường hợp hợp đồng mua bán được ký kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp đối tác thuộc nước chưa gia nhập CISG.
Cuối cùng, để CISG có hiệu quả ở Việt Nam, cần nhiều nỗ lực tuyên truyền, phổ biến về CISG. Dù rất phổ biến trong thương mại quốc tế và nhiều nguyên tắc quan trọng đã được đưa vào pháp luật Việt Nam, nội dung Công ước Viên 1980 nhìn chung còn khá mới mẻ đối với hệ thống pháp luật, tư pháp và trọng tài Việt Nam. Vì vậy các doanh nghiệp, tòa án, trọng tài ở Việt Nam cần có nhiều thời gian hơn để nghiên cứu, hiểu rõ khi áp dụng CISG trong các quan hệ giao dịch thương mại quốc tế. Công ước hiện được lưu hành theo 6 thứ tiếng, và điều này có thể gây khó khăn khi áp dụng Công ước (đặc biệt khi chúng ta hiểu không đúng hoặc không đủ ý nghĩa hàm chứa trong các quy định cụ thể). Vì vậy, để CISG thực sự có hiệu quả khi Việt Nam gia nhập Công ước này, việc tuyên truyền và nghiên cứu về nội dung CISG cần được thực hiện thường xuyên và có hệ thống.
Có thể nói nếu như Việt Nam có thể thu rất nhiều lợi ích khi gia nhập CISG, vẫn tồn tại những vấn đề cần được lưu ý để có thể tận dụng các thế mạnh và lợi ích của CISG. Cần lưu ý rằng tất cả những bất cập nói trên của CISG không phải là những vấn đề về then chốt về nội dung mà chủ yếu liên quan đến đến việc áp dụng Công ước này.
3. Điều kiện và thủ tục gia nhập Công ước Viên
CISG không có quy định về điều kiện gia nhập đối với các quốc gia không tham gia ký kết như Việt Nam (Điều 91, khoản 3 CISG: Công ước này sẽ nhận sự gia nhập tất cả các quốc gia không ký tên, kể từ ngày Công ước để ngỏ cho các bên ký kết). Các quốc gia thành viên không có nghĩa vụ đóng góp về tài chính, không phải thành lập một cơ quan riêng để thực thi Công ước, cũng không có bất kỳ nghĩa vụ báo cáo định kỳ nào. Thủ tục để một quốc gia gia nhập Công ước khá đơn giản, không phải qua quá trình phê duyệt, phê chuẩn. Cơ quan có thẩm quyền của quốc gia muốn gia nhập CISG chỉ cần đệ trình văn bản gia nhập và đưa ra các tuyên bố bảo lưu (nếu có).
Theo quy định của Luật Ký kết, Gia nhập và Thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, trong trường hợp Việt Nam gia nhập CISG thì việc gia nhập sẽ phải tuân theo các thủ tục sau:
            Bước 1: Bộ Công Thương nghiên cứu khả năng Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980.
            Bước 2: Bộ Công Thương lấy ý kiến kiểm tra bằng văn bản của Bộ Ngoại giao, ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, ý kiến của các cơ quan hữu quan.
            Bước 3: Bộ Công Thương tổng hợp ý kiến và đề xuất với Chính phủ về việc gia nhập CISG.
            Bước 4: Chính phủ ra quyết định gia nhập CISG (do việc gia nhập Công ước không đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hay bàn hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội).
            Bước 5: Chính phủ đệ trình văn bản gia nhập cho Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc.

4. Yêu cầu sau gia nhập

Mặc dù không có đòi hỏi bắt buộc nào về thủ tục sau gia nhập, theo khuyến nghị của UNCITRAL, các cơ quan áp dụng pháp luật tại các quốc gia thành viên nên có một hệ thống báo cáo các vụ kiện liên quan đến Công ước Viên 1980. Hệ thống này sẽ tập hợp và báo cáo các vụ kiện có liên quan đến Công ước này cho Ban thư ký của UNCITRAL để cơ quan này đưa lên hệ thống cơ sở dữ liệu “CLOUT” (Case Law on UNCITRAL Texts). Đây là khuyến nghị, không phải là “nghĩa vụ” của quốc gia thành viên Công ước. Tuy nhiên, đây là việc nên làm vì công khai hóa các phán quyết/ quyết định của tòa án/ trọng tài của Việt Nam liên quan đến CISG sẽ góp phần làm tăng sự tin tưởng của cộng đồng kinh doanh quốc tế vào sự minh bạch của hệ thống pháp luật Việt Nam về thương mại quốc tế. Nếu thực hiện khuyến nghị này, sau khi Việt Nam gia nhập CISG, một cơ quan hay tổ chức được chỉ định sẽ chịu trách nhiệm về việc thực hiện Báo cáo án lệ cho UNCITRAL.






[1] Việt Nam đã tham gia 52 trong số 210 điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực thương mại quốc tế, trong khi đó tỷ lệ trung bình trên thế giới là 72/210 và trong khu vực là 59/210. Về vấn đề này, Việt Nam được xếp hạng thứ 132 trên thế giới (trên 192 quốc gia) và thứ 14 trong khu vực Châu Á (trên 23 quốc gia). Nguồn : International Trade Centre (UNCTAD/WTO) & Ministry of Trade of Vietnam, Report on key multilateral treaties affecting trade not ratified by Vietnam- A cost/benefit analysis, March 2007.
[2] Diễn ra tại Viên-chăn (Lào), ngày 11-13/9/2006
[3] Điều này được khẳng định trong các công trình nghiên cứu sau: LAMAZEROLLES Eddy, Les apports de la Convention de Vienne au droit interne de la vente, LGDJ, 2003 ; BERNSTEIN Herbert, Understanding the CISG in Europe: a compact guide to the 1980 United Nations Convention on contracts for the International sales of goods, Kluwer Law International, 2002 ; LOOKOFSKY Joseph, Understanding the CISG in the USA: a compact guide to the 1980 United Nations Convention on contracts for the International sales of goods, Kluwer Law International, second edition, 2002 ; LOOKOFSKY Joseph, Understanding the CISG in Scandinavia, Kluwer Law International, 2002; CASTELLET Lorence, The application of the Vienna Convention in the United States, RDAI, no5 du 01/06/1999, p.528-595; MOULY Christian, Que change la Convention de Vienne sur la vente internationale par rapport au droit français interne ?, dans Recueil Dalloz Sirey, 1991, 11è cahier, Chroniques, p.77-79 ; WITZ Claude, L’adaptation du droit français interne aux règles de la Convention de Vienne sur la vente internationale de marchandises, dans Mélanges Christian MOULY, Paris, LITEC, 1998, livre II, p.205-219.
[4] Ban tư vấn CISG (CISG-AC) được thành lập năm 2001 do nhu cầu ngày càng tăng của việc làm rõ các vấn đề tranh cãi liên quan đến CISG. CISG-AC đóng góp vào việc hướng dẫn giải thích Công ước Viên 1980 thông qua các Bình luận Chính thức.  Hiện đã có 09 Bình luận Chính thức được công bố. Xem them tại <http://www.cisgac.com/> truy cập ngày 10/8/2009.
[5] Điều này có thể được nhận thấy ngay từ việc quan sát cơ cấu của Công ước Viên 1980 với những chương, mục, điều lần lượt áp dụng cho người bán và cho người mua, tạo ra những quyền và nghĩa vụ có tính chất tương xứng giữa hai bên.

Hệ thống các vụ kiện liên quan đến Công ước Viên

Hệ thống các vụ kiện liên quan đến Công ước Viên
1. Nhận định chung:
Hệ thống các vụ kiện liên quan đến CISG trên thế giới hiện nay đã được báo cáo trên 2500 vụ kiện. Tuy nhiên, con số thực tế có thể lớn hơn rất nhiều, vì nhiều vụ kiện không được báo cáo rộng rãi. Các vụ kiện của CISG được báo cáo trên 2 nguồn chính sau:
www.uncitral.org (website chính thức của Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc)
www.cisg.law.pace.edu (website chuyên về CISG – là hệ thống cơ sở dữ liệu của Đại học Pace, Hoa Kỳ)
Qua nghiên cứu hệ thống các phán quyết/quyết định liên quan đến Công ước Viên do UNCITRAL xây dựng có thể đưa ra một số nhận định như sau:
Liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước, hiện nay không có một cơ quan tài phán thường trực chuyên biệt để giải quyết các vụ kiện liên quan đến Công ước. Các tranh chấp liên quan đến CISG được giải quyết bởi các tòa án quốc gia hoặc các cơ quan trọng tài. Quyền giải thích, áp dụng Công ước được trao hoàn toàn cho cơ quan tài phán có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. UNCITRAL là cơ quan chủ trì soạn thảo CISG, do đó những giải thích về các quy định của Công ước do cơ quan này đưa ra được coi là giải thích chính thức và được các cơ quan tài phán tham khảo trong quá trình áp dụng Công ước.
Về bản chất, các phán quyết và quyết định của Tòa án/ Trọng tài liên quan đến CISG trong hệ thống UNCITRAL chỉ mang tính chất tham khảo, không phải là án lệ, không phải là khuôn mẫu và cơ sở có tính chất bắt buộc để các tòa án/trọng tài khác đưa ra phán quyết cho những vụ việc tương tự sau đó).
Hệ thống các phán quyết/quyết định liên quan đến CISG được xây dựng dựa trên hệ thống các báo cáo viên quốc gia (national correspondents) do nước Thành viên của Công ước chỉ định. Việc chỉ định báo cáo viên này phải được xác nhận lại theo giai đoạn 5 năm một lần. Các báo cáo viên có trách nhiệm thu thập các quyết định và phán quyết của tòa án hoặc trọng tài nước mình và chuẩn bị các bản tóm tắt. Ban Thư ký UNCITRAL sẽ lưu trữ các quyết định và phán quyết này, và chuyển ngữ các bản tóm tắt nội dung vụ kiện ra 5 ngôn ngữ chính thức của Công ước.
Theo thống kê của UNCITRAL, hiện nay có 648 phán quyết của tòa án/trọng tài các nước liên quan đến CISG được chính thức thông báo lên UNCITRAL, trong đó bao gồm 308 vụ trong giai đoạn 2000-Q1/2011, 340 vụ trong giai đoạn từ 1980-1999. Các nước thành viên có số lượng tranh chấp nhiều nhất là Đức 139 vụ, Thụy Sỹ 95 vụ, Tây Ban Nha 59 vụ, Trung Quốc 56 vụ, Pháp 55 vụ, Hoa Kỳ 51 vụ. Các nước Thành viên châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore chưa có vụ kiện nào được thông báo lên UNCITRAL.
Đồng thời, theo thống kê tại trang www.cisg.law.pace.edu (website chuyên về CISG – là hệ thống cơ sở dữ liệu của Đại học Pace, Hoa Kỳ), hệ thống các vụ kiện liên quan đến CISG hiện nay bao gồm 2726 vụ. Trong giai đoạn từ năm 2000-2010, những nước có số vụ kiện cao nhất bao gồm Trung Quốc 196 phán quyết, Đức 176 phán quyết, Nga 157 phán quyết và Mỹ 109 phán quyết trong 99 vụ, Thụy Sỹ với 84 phán quyết. Đối với các nước châu Á, trong 10 năm qua, ngoài Trung Quốc thì chỉ có Singapore với 1 vụ kiện và Nhật Bản với 1 vụ được ghi nhận trong hệ thống. Hàn Quốc là thành viên của Công ước vẫn chưa có báo cáo vụ kiện trong hệ thống này. Việt Nam tuy chưa phải là thành viên Công ước nhưng đã có 2 vụ kiện được ghi nhận trong hệ thống.
Một vấn đề cần lưu ý là việc báo cáo các vụ kiện về CISG không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với các nước Thành viên Công ước, do đó trên thực tế số lượng tranh chấp là rất nhiều nhưng chưa được các nước báo cáo chính thức đến Ban Thư ký UNCITRAL.
2. Hàng hóa thường xảy ra tranh chấp:
Nhìn chung, các vụ kiện CISG liên quan đến rất nhiều mặt hàng xuất nhập khẩu, từ hàng công nghiệp đến nông nghiệp, hàng phục vụ sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hóa chất cho đến hàng tiêu dùng như thực phẩm, nội thất, điện tử, may mặc…
Theo UNCITRAL, trong tổng số 139 vụ kiện được xét xử bởi các cơ quan tài phán Đức, có 31 vụ liên quan đến các sản phẩm dệt may và da giày, 24 vụ liên quan đến hàng nông sản và thực phẩm, 20 vụ về vật liệu xây dựng và đồ nội thất, 14 vụ về máy móc-thiết bị- phương tiện vận tải, 9 vụ liên quan đến thiết bị-linh kiện điện tử… Đối với Trung Quốc, đa số các vụ kiện liên quan đến mặt hàng sắt thép và kim loại (14 vụ), hàng nông sản và thực phẩm (7 vụ), hóa chất (8 vụ), máy móc thiết bị (7 vụ)… trong tổng số 56 vụ. Trường hợp của Pháp, phần lớn các vụ tranh chấp liên quan đến thiết bị-linh kiện-máy móc (13 vụ), hàng nông sản và thực phẩm (8 vụ), vật liệu xây dựng (5 vụ)… trong tổng số 55 vụ. Đối với Hoa Kỳ, tranh chấp chủ yếu liên quan đến sản phẩm phần mềm, máy tính, điện tử, máy móc – thiết bị, sản phẩm nông nghiệp (xuất khẩu), dệt may, hóa chất, nguyên vật liệu (nhập khẩu)… Đối với Thụy Sỹ, phần lớn tranh chấp liên quan đến máy móc, thiết bị, vật liệu xây dựng (xuất khẩu), hàng dệt may (nhập khẩu)…
Như vậy, có thể thấy rằng các mặt hàng thường hay xảy ra tranh chấp thường là mặt hàng thế mạnh xuất khẩu của các nước thành viên hoặc mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của những nước này.
 3. Các vấn đề thường xảy ra tranh chấp và hướng giải quyết của các cơ quan tài phán:
Thông qua nghiên cứu hệ thống các vụ kiện liên quan đến Công ước Viên 1980 của UNCITRAL có thể thấy rằng các vụ tranh chấp thường liên quan đến các vấn đề chính sau:
a. Tính toán thiệt hại và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng - Điều 74 (147 vụ):
Trong hầu hết các vụ kiện, đòi bồi thường thiệt hại là mục đích chính của bên bị vi phạm khi khởi kiện nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Điều này lí giải cho thực tế rằng trong đa số các vụ kiện CISG, Điều 74 thường được áp dụng. Việc áp dụng các quy định của Điều 74 chủ yếu liên quan đến các khía cạnh sau:
- Phạm vi bồi thường: nếu hàng hóa giao không phù hợp với yêu cầu của hợp đồng thì phạm vi bồi thường thiệt hại được tính với số hàng hóa không phù hợp đó hay toàn bộ lô hàng[1]?
- Loại thiệt hại: trượt giá đồng tiền thanh toán trong trường hợp chậm thanh toán có được coi là thiệt hại và được bồi thường không[2]; 
- Tính có thể dự liệu trước: loại thiệt hại nào mà bên vi phạm có thể dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được tại thời điểm ký kết hợp đồng? Có một số thiệt hại mà bên vi phạm không thể dự liệu trước như: chi phí gia công hàng hóa ở một nước khác do chậm giao hàng[3]; lợi nhuận bị mất từ hợp đồng của bên mua với bên mua lại hàng hóa[4] mà bên bán là bên vi phạm không biết; chi phí kiểm tra hàng hóa ở nước nhập khẩu mà không phải ở nước xuất khẩu[5]… Bên cạnh đó, một số thiệt hại là rõ ràng có thể dự liệu được như: bên mua là doanh nghiệp bán lẻ thì bên bán phải dự liệu được hàng hóa sẽ được bán lại[6]; bên mua không thanh toán trước tiền hàng theo thỏa thuận được coi là phải dự liệu trước được bên bán hàng hóa có thể thay thế sẽ bị mất khoản lợi nhuận chính đáng của mình[7]; 10% giá hàng hóa được bồi thường cho bên bán vì đã sản xuất hàng theo đơn đặt hàng riêng của bên mua trong trường hợp bên bán không chứng minh được khoản thiệt hại mà mình phải gánh chịu[8]; bên mua phải dự liệu được việc không mở L/C theo yêu cầu của hợp đồng sẽ khiến bên bán tự động ngừng sử dụng tàu đã được đặt trước để vận chuyển hàng hóa, khi đó thiệt hại mà bên bán phải chịu trong hợp đồng thuê tàu sẽ được bồi thường[9]...
- Khoản lợi bị bỏ lỡ: các bên tranh chấp về khoản chênh lệch giữa giá hàng hóa theo hợp đồng và giá bán trên thị trường có được coi là khoản lợi bị bỏ lỡ hay không[10].
b. Tiền lãi đối với số tiền chậm trả - Điều 78 (122 vụ):
Điều 78 trao quyền cho một bên được đòi tiền lãi đối với “giá bán hay bất cứ khoản tiền nào chậm trả”.
- Điều kiện để được hưởng lãi: để được hưởng lãi thì khoản tiền mà lãi sẽ được tính trên đó phải đến hạn và bên nợ không thực hiện được nghĩa vụ trả tiền trước thời điểm được xác định trong hợp đồng[11], hoặc trong Công ước trong trường hợp hợp đồng không nhắc đến thời điểm đó.[12] Việc được hưởng lãi theo Điều 78 không phụ thuộc vào việc bên chủ nợ có chứng minh được rằng bên này phải chịu thiệt hay không. Do đó, tiền lãi được đòi hỏi độc lập với thiệt hại do việc chậm trả gây ra[13].
- Lãi suất: một vài tòa án đã chỉ ra rằng Điều 78 chỉ đưa ra việc được hưởng lãi suất một cách chung chung mà không cụ thể mức lãi suất được áp dụng.[14] Việc thiếu một công thức cụ thể cho việc tính toán lãi suất đã dẫn đến việc một vài tòa án xem vấn đề này được điều chỉnh bởi Công ước nhưng không được giải quyết rõ ràng bởi Công ước[15], trong khi đa số các tòa án coi vấn đề lãi suất là vấn đề nằm ngoài phạm vi của Công ước và do vậy xử lý theo luật nội địa,[16] ví dụ một Tòa đã phán quyết bên thua kiện phải trả 10% lãi suất tiền hàng theo quy định của luật quốc gia được chọn áp dụng[17]. Đối với vấn đề được điều chỉnh nhưng không được thể hiện rõ ràng trong Công ước thì theo Điều 7(2), vấn đề đó phải được xử lý phù hợp với các nguyên tắc chung mà Công ước lấy làm cơ sở, chỉ trong trường hợp thiếu vắng các nguyên tắc này thì mới áp dụng luật do các quy tắc của luật tư pháp quốc tế xác định. Hầu hết tòa án xem vấn đề lãi suất không thuộc phạm vi của Công ước sẽ áp dụng nội luật của một nước cụ thể, được xác định bằng việc sử dụng các quy tắc của tư pháp quốc tế[18], số khác sẽ áp dụng nội luật của bên chủ nợ mà không có chỉ dẫn nào xem liệu đó có phải là luật được áp dụng bởi các quy tắc của tư pháp quốc tế.[19]
c. Thời hạn thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa (Điều 39) 85 vụ
Theo Điều 39, bên mua đã khiếu nại rằng hàng hóa đã được giao không phù hợp với hợp đồng có nghĩa vụ thông báo cho bên bán về sự không phù hợp đó.
- Phạm vi của Điều 39: đa phần các quyết định áp dụng yêu cầu thông báo tại Điều 39 đều liên quan đến khiếu nại rằng hàng hóa bị khiếm khuyết hoặc không phù hợp theo Điều 35. Tuy nhiên, nghĩa vụ thông báo theo Điều 39 được áp dụng không chỉ đối với các vi phạm nghĩa vụ đảm bảo chất lượng mà còn với các vi phạm quy định bảo hành trong hợp đồng theo Điều 35.[20]
Một vài quyết định đưa ra yêu cầu về nghĩa vụ thông báo khi bên mua khiếu nại rằng hàng hóa được chuyển giao không đảm bảo về số lượng.
- Thời hạn hợp lý: Trong một vài vụ kiện, các bên tranh cãi nhau về việc  thời hạn bao lâu được coi là thời hạn hợp lý để thông báo sự không phù hợp của hàng hóa[21]. Một Tòa án thấy rằng bên mua đã thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa sau 2 tháng kể từ ngày hàng được giao, trong khi bên này hoàn toàn có thể dễ dàng phát hiện ra khiếm khuyết của hàng hóa và thông báo cho bên bán trong vòng vài ngày sau khi nhận hàng. Như vậy, bên mua được coi là không thông báo trong thời hạn hợp lý.
- Nội dung thông báo: trong một vụ kiện khác, bên mua đã thông báo cho bên bán về sự không phù hợp của hàng hóa là kẹo mềm với nội dung “kẹo được giao quá mềm”[22]. Tuy nhiên, Tòa án cho rằng thông báo này mang tính chung chung, không chỉ rõ được tính thiếu phù hợp của hàng hóa theo Điều 39.
- Giới hạn thời gian thông báo: nhiều tranh chấp liên quan đến thời hạn 2 năm theo quy định của Điều 39(2) theo đó trong mọi trường hợp bên mua phải thông báo cho bên bán về sự thiếu phù hợp của hàng hóa trong thời hạn này[23]. Ví dụ, bên mua khởi kiện khi phát hiện ra hàng hóa (đá lát nền) bị hư hỏng do sương giá sau 6 năm kể ngày mua, mặc dù hàng đã được bảo đảm chịu được sương giá. Tòa kết luận rằng người mua đã mất quyền kiện hàng hóa không phù hợp do đã không thông báo cho người mua chậm nhất trong vòng 2 năm kể từ ngày giao hàng. Ngoài ra, nhiều Tòa cũng nhầm lẫn thời hạn 2 năm cho việc thông báo theo Điều 39(2) với thời hiệu khởi kiện[24].
- Hậu quả của việc không thông báo: cả Điều 39 (1) và Điều 39 (2) đều nêu lên rằng việc không thông báo sẽ khiến bên mua mất quyền khiếu nại về sự không phù hợp của hợp đồng[25]. Điều này có nghĩa là bên mua sẽ mất quyền được hưởng các bất kỳ các biện pháp khắc phục nào để sửa chữa sự không phù hợp như quyền yêu cầu bên bán sửa chữa hàng hóa[26], quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại[27], quyền được giảm giá[28], và quyền không thực hiện hợp đồng[29].
- Nghĩa vụ chứng minh: đa phần các quyết định đưa ra đều yêu cầu bên bán phải chứng minh rằng họ đã đưa ra thông báo về sự không phù hợp. Các quyết định này đều dựa vào các nguyên tắc chung của CISG để làm cơ sở cho yêu cầu nghĩa vụ chứng minh đối với bên bán.[30]
- Hình thức thông báo: Điều 39 không nêu cụ thể hình thức thông báo được yêu cầu, mặc dù các bên có thể yêu cầu một hình thức cụ thể thông qua thỏa thuận. Thông báo dưới hình thức văn bản thường được chấp nhận và nội dung của các thư từ trao qua đổi lại sẽ được xem là thỏa mãn yêu cầu của Điều 39.[31] Thông báo qua điện thoại cũng được xem là đầy đủ với điều kiện là bên bán phải đưa ra được các bằng chứng về ngày cuộc gọi, bên mà bên bán nói chuyện, hoặc thông tin được đưa ra về sự không phù hợp của hàng hóa.[32]
- Bên được thông báo: Điều 39 nêu rằng thông báo về sự không phù hợp phải được đưa ra cho bên bán.[33] Do vậy, những trao đổi giữa bên mua với khách hàng của bên mua về sự không phù hợp của hàng hóa không thỏa mãn yêu cầu thông báo theo Điều 39 bởi vì những trao đổi đó không có sự tham gia của bên bán.[34] Bên cạnh đó, thông báo tới đại lý của bên bán cũng có thể được xem là thỏa mãn Điều 39. Trong một vụ khác, các bên tranh chấp về việc người mua thông báo sự không phù hợp của hàng hóa đến người làm thuê của người bán có được coi là hợp lệ hay không[35]? Phán quyết của Tòa chỉ ra rằng người mua đã không gửi thông báo đến người phù hợp (là người bán), cũng không chứng minh được việc người nhận thông báo đã thông báo lại cho người bán, do vậy thông báo bị coi là không hợp lệ.
- Các thỏa thuận liên quan đến thông báo: Điều 39 chịu ảnh hưởng của quyền của các bên theo Điều 6 để từ bỏ hay thay đổi hiệu lực của bất cứ điều khoản nào của Công ước. Một số quyết định đã nhắc đến các thỏa thuận giữa các bên liên quan đến nghĩa vụ của bên mua ra thông báo cho bên bán khiếu nại của mình về việc hàng hóa không phù hợp với yêu cầu của hợp đồng.[36] Những thỏa thuận này thường được thực thi và bên mua đôi lúc mất quyền khiếu nại về sự không phù hợp bởi vì họ không tuân thủ các điều khoản của thỏa thuận đó.[37] Các bên cũng không được xem là đã từ bỏ Điều 39 chỉ bằng việc đồng ý với bảo hành 18 tháng theo hợp đồng[38] hoặc là một hợp đồng bảo hành mà không xử lý rõ vấn đề nghĩa vụ của bên mua thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa[39].
d. Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng (Điều 25) 78 vụ
Nhìn chung, Điều 25 xác định ranh giới giữa các tình huống dẫn đến các biện pháp khắc phục thông thường khi vi phạm hợp đồng – như bồi thường thiệt hại và giảm giá – và những vi phạm đòi hỏi phải có biện pháp khắc phục mạnh hơn như là vô hiệu hợp đồng.
- Vi phạm cơ bản: Vi phạm được coi là cơ bản nếu vi phạm đó thủ tiêu hay làm giảm đáng kể các mong đợi hợp lý trên cơ sở hợp đồng của người bị thiệt hại. Các mong đợi nào được coi là hợp lý phụ thuộc vào từng hợp đồng cụ thể, thực tiễn thương mại và các điều khoản của Công ước. Ví dụ, bên mua thông thường không thể mong đợi rằng hàng hóa được giao phải tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn chính thức tại nước của bên đó.[40]
- Các tình huống vi phạm cơ bản: việc không thể thực hiện một nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng tạo nên một vi phạm cơ bản hợp đồng trừ phi bên vi phạm có lý do chính đáng để hành động như vậy, ví dụ như trong trường hợp không giao hàng[41] hoặc không thanh toán lần cuối[42]. Tuy nhiên, việc giao hàng chậm hay thanh toán chậm không tạo nên một vi phạm cơ bản của hợp đồng[43].
+ Trong trường hợp nào việc giao hàng không phù hợp theo yêu cầu của hợp đồng được coi là vi phạm cơ bản? Một số tòa quyết định rằng sự không phù hợp liên quan đến chất lượng hàng hóa không được coi là vi phạm cơ bản nếu bên mua có thể sử dụng hàng hóa hoặc bán lại hàng hóa với giá giảm[44]. Mặt khác, nếu hàng hóa không phù hợp không thể được dùng hay bán lại thì đó là vi phạm cơ bản và bên mua có quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu[45]. Vi phạm cũng được xem là cơ bản nếu hàng hóa được giao có khiếm khuyết nghiêm trọng và không thể sửa chữa mặc dù chúng vẫn có thể sử dụng được ở một mức độ nào đó[46].
Việc vi phạm các nghĩa vụ hợp đồng khác cũng có thể là vi phạm cơ bản. Tuy nhiên, vi phạm đó phải tước bỏ của bên bị vi phạm lợi ích chính của hợp đồng và hệ quả này có thể lường trước được bởi bên vi phạm. Tổng cộng của nhiều vi phạm hợp đồng tạo ra nhiều khả năng hơn để một vi phạm cơ bản có thể xảy ra, nhưng tự chúng không tạo nên một vi phạm cơ bản[47].
- Nghĩa vụ chứng minh: các bên cũng tranh chấp về nghĩa vụ chứng minh liên quan đến vi phạm cơ bản. Nghĩa vụ chứng minh liên quan đến khả năng lường trước được thiệt hại thuộc về bên vi phạm[48]. Bên vi phạm phải chứng minh rằng bên này không thể lường trước được các tác động thiệt hại đáng kể của vi phạm, và rằng một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự. Trong khi đó, bên bị thiệt hại phải chứng minh được rằng vi phạm đã làm mất đi đáng kể lợi ích mà bên này có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng[49].
đ. Nghĩa vụ thanh toán tiền và nhận hàng của người mua (Điều 53) 77 vụ
Quy định của Điều 53 cho thấy rằng trường hợp hợp đồng quy định việc thanh toán và nhận hàng khác với quy định của Công ước thì thỏa thuận của các bên sẽ được áp dụng.
Theo Công ước, hợp đồng có thể áp đặt nhiều nghĩa vụ đối với bên mua ngoài nghĩa vụ thanh toán và giao nhận[50], như nghĩa vụ cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất hàng hóa, hay nghĩa vụ nộp các mô tả kỹ thuật liên quan đến hình thức, kích thước hoặc các đặc điểm khác của hàng hóa.
Rất nhiều quyết định của tòa án dẫn chiếu Điều 53 liên quan đến các phán quyết yêu cầu bên mua phải thanh toán tiền hàng[51].
e. Xác định sự phù hợp của hàng hóa theo hợp đồng (Điều 35) 69 vụ
- Nghĩa vụ chứng minh: bên nào chịu nghĩa vụ chứng minh rằng hàng hóa không phù hợp theo yêu cầu của hợp đồng theo Điều 35? Có tòa cho rằng bên bán phải thực hiện nghĩa vụ này, trong khi có tòa lại cho rằng nghĩa vụ này thuộc về bên mua. Một số tòa kết luận rằng, bản thân Công ước, mặc dù không có câu trả lời rõ ràng cho vấn đề này, đã nêu ra một nguyên tắc chung rằng bên nào khẳng định một sự việc thì có nghĩa vụ chứng minh điều đó, điều này dẫn đến việc đưa nghĩa vụ chứng minh cho bên mua vì bên này đã khẳng định rằng hàng hóa không phù hợp theo yêu cầu của hợp đồng[52]. Một vài tòa lại cho rằng nghĩa vụ chứng minh phụ thuộc vào hoàn cảnh. Ví dụ, bên mua chịu trách nhiệm chứng minh sự không phù hợp của hàng hóa nếu bên này nhận hàng mà không thông báo ngay lập tức cho bên bán về sự không phù hợp[53]. Tương tự, bên bán chịu trách nhiệm chứng minh hàng hóa phù hợp theo yêu cầu của hợp đồng tại thời điểm rủi ro được chuyển giao, tuy nhiên bên mua lại chịu trách nhiệm chứng minh sự không phù hợp sau khi rủi ro được chuyển nếu bên mua chấp nhận hàng hóa mà không thông báo ngay lập tức cho bên bán về những khiếm khuyết đó[54].
g. Kiểm tra hàng hóa (Điều 38) 61 vụ
Điều 38 yêu cầu bên mua phải kiểm tra hàng hóa đã được giao nhận. Phần lớn nội dung Điều 38 tập trung vào thời điểm mà việc kiểm tra nên xảy ra. Tuy nhiên, Điều 38 không chỉ rõ loại hình hay phương thức kiểm tra, và vấn đề này đã thu hút nhiều bình luận hay giải thích khác nhau trong nhiều vụ việc.
- Phương thức kiểm tra: Điều 38 ám chỉ rằng bên mua có thể tự mình kiểm tra hàng hóa hoặc nhờ cá nhân hay tổ chức khác kiểm tra như khách hàng của bên mua, nhà thầu phụ hoặc một chuyên gia do bên mua chỉ định. Tuy nhiên, bên mua phải chịu trách nhiệm cuối cùng đối với việc kiểm tra do các bên khác thực hiện.[55]
Phương thức kiểm tra sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên hay thực tiễn thương mại.[56] Trong trường hợp thiếu các yếu tố đó cần có sự kiểm tra một cách toàn diện, hợp lý và chuyên nghiệp. Mức độ và cường độ kiểm tra sẽ được xác định bởi loại hàng hóa, việc đóng gói và năng lực của bên mua.[57] Các vấn đề gây tranh cãi liên quan đến phương thức hay cách thức kiểm tra bao gồm: tác động của trình độ chuyên môn của bên mua đối với mức độ kiểm tra,[58] liệu kiểm tra mang tính thử nghiệm hay lấy mẫu có đầy đủ[59], tác động của việc đóng gói hàng hóa và điều kiện vận chuyển hàng hóa lên loại hình kiểm tra mà bên mua nên tiến hành[60], hay liệu việc một chuyên gia bên ngoài là có thể được hay bắt buộc[61]?
- Thời điểm kiểm tra: thời điểm kiểm tra của bên mua bắt đầu khi hàng hóa được giao nhận[62], tương ứng với thời điểm rủi ro mất mát được chuyển sang cho bên bán.[63] Tuy nhiên, yêu cầu về thời điểm kiểm tra theo Điều 38 (1) mang tính linh hoạt, và thời điểm kiểm tra sẽ khác nhau tùy theo từng vụ việc cụ thể.[64] Các nhân tố ảnh hưởng đến thời điểm kiểm tra bao gồm: bản chất dễ hư hỏng của hàng hóa[65], trình độ chuyên môn của bên mua[66], tính phức tạp của hàng hóa[67], sự khó khăn khi tiến hành kiểm tra[68] hay tính hiển nhiên của việc không phù hợp[69]. Thời điểm kiểm tra được xác định trong một số vụ việc có thể là một tuần sau khi hàng hóa được giao nhận, có thể là 2 tuần, hoặc 3-4 ngày đến một tháng, hoặc ngay vào ngày mà hàng hóa được giao.
Tóm lại, nhận định chung về hướng giải quyết tranh chấp hợp đồng của các Tòa án và Trọng tài như sau:
- Các quy định của Công ước Viên được giải thích và áp dụng độc lập theo quan điểm và cách hiểu của các tòa án và trọng tài, không bị ràng buộc bởi một cơ quan giám sát nào của Công ước. Tuy nhiên, các lập luận và quyết định của các tòa án/trọng tài thể hiện sự am hiểu sâu và nắm vững các quy định của CISG cũng như các tập quán thương mại quốc tế và quy tắc tư pháp quốc tế của các thẩm phán/trọng tài viên. Ngược lại, cũng có một số vụ kiện cho thấy người ra phán quyết đã hiểu nhầm và áp dụng sai các quy định của Công ước. Những sai sót này được tổng kết và bình luận trong hệ thống tóm tắt các vụ kiện của UNCITRAL.
- Trong một vụ kiện, các vấn đề được giải quyết thông qua việc kết hợp xem xét nhiều điều khoản của Công ước. Phần lớn các vụ kiện có nội dung tranh chấp liên quan đến nhiều vấn đề pháp lý được Công ước điều chỉnh chứ không phải chỉ một vấn đề riêng lẻ (ví dụ: khiếu nại hàng hóa giao không phù hợp và đòi bồi thường thiệt hại; khiếu nại việc chậm thanh toán và yêu cầu hủy hợp đồng; khiếu nại việc không thực hiện nghĩa vụ thông báo và yêu cầu hủy hợp đồng; đòi bồi thường thiệt hại và giao hàng hóa thay thế…). Điều này cho thấy sự phức tạp trong các tranh chấp về giao dịch thương mại quốc tế qua hợp đồng.
- Đối với một số vấn đề chưa được Công ước điều chỉnh (như đồng tiền thanh toán, giá trị bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa, thời hiệu khởi kiện…), tòa án/trọng tài sẽ căn cứ vào các nguyên tắc chung của luật quốc tế cũng như các quy định trong các công ước quốc tế khác, tập quán quốc tế và trong nhiều trường hợp là luật quốc gia có liên quan để giải quyết (như Incoterms, Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử, Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ UCP, các quy tắc của luật tư pháp quốc tế, luật quốc gia…).




[1] Vụ kiện số 984, Trung Quốc.
[2] Vụ kiện số 130, Oberlandesgericht Düsseldorf, Đức, 14/1/1994 (seller did not establish its loss from devaluation of currency in which price was to be paid); Vụ kiện số 214, Handelsgericht des Kantons Zürich, Thụy Sỹ, 5/2/1997.
[3] case No. 294 [Oberlandesgericht Bamberg, Germany, 13 January 1999] (breaching party could not foresee that late delivery would require processing in Germany rather than Turkey).
[4] Vụ kiện số 476, Trọng tài thương mại quốc tế thuộc Trọng tài thương mại và Công nghiệp Liên bang Nga, 6/6/2000.
[5] Vụ kiện số 474, Trọng tài thương mại quốc tế thuộc Trọng tài thương mại và Công nghiệp Liên bang Nga, 24 January 2000 (người bán không thể dự liệu trước việc kiểm tra hàng hóa ở nước ngoài được viện dẫn để yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với thương hiệu của hàng hóa).
[6] Vụ kiện số 168, Oberlandesgericht Köln, Đức, 21/3/1996.
[7] Vụ kiện số 427, Oberster Gerichtshof, Áo, 28/4/2000.
[8] Vụ kiện số  217, Handelsgericht des Kantons Aargau, Thụy Sỹ, 26/9/1997.
[9] Vụ kiện số 631, Tòa án Tối cao bang Queensland, Australia, 17/11/2000.
[10] Trung Quốc, Vụ kiện số 679.
[11] Vụ kiện số 254, Thụy Sỹ, ngày 19/12/1997
[12] Vụ kiện số 79, Đức, ngày 18/1/1994
[13] Vụ kiện số 79, Đức, ngày 18/1/1994
[14] Vụ kiện số 634, Đức, ngày 21/3/2003
[15] Vụ kiện số 301 (Trọng tài – Tòa Thương mại quốc tế số 7585 1992), 1995
[16] Vụ kiện số 56, Thụy Sỹ, ngày 27/4/1992
[17] Vụ kiện số 79, Đức, ngày 18/1/1994
[18] Vụ kiện số 432, Đức, ngày 12/10/2000; Vụ kiện số 630, Tòa trọng tài của Phòng Thương mại quốc tế, Thụy Sỹ, 7/1999
[19] Một vài quyết định của tòa án đã nhắc đến nội luật của bên chủ nợ như luật áp dụng, không phụ thuộc vào việc liệu các quy tắc của tư pháp quốc tế có chỉ định luật đó hay không (Vụ kiện số 6, Đức, 16/9/1991; Vụ kiện số 4, Đức, 31/8/1991)
[20] Vụ kiện số 237, Viện Trọng tài của Phòng Thương mại Stockholm, 5/6/1998
[21] Vụ kiện số 81, Đức, ngày 10/2/1994; Case 989, Trung Quốc, ngày 5/4/1999
[22] Vụ kiện số 411, Đức, ngày 24/1/1996
[23] Vụ kiện số 1026, Pháp, ngày 8/4/2009
[24] Vụ kiện số 1027, Pháp, ngày 3 /2/ 2009
[25] Vụ kiện số 359, Đức, ngày 18 /11/ 1999
[26] Vụ kiện số 196, Thụy Sỹ, ngày 26/4/1995
[27] Vụ kiện số 50, Đức, 14/8/1991
[28] Vụ kiện số 232, Đức, 11/3/1998; Vụ kiện số 46, Đức, ngày 3/4/1990
[29] Vụ kiện số 232, Đức, 11/3/1998; Vụ kiện số 282, Đức, ngày 31/1/1997
[30] Vụ kiện số 378, Ý, 12/7/2000; Vụ kiện số 251, Thụy Sỹ, ngày 30/11/1998
[31] Rechtbank van Koophandel Kortrijk, Bỉ, 27/6/1997, Unilex
[32] Vụ kiện số 4, Đức, 31/8/1989
[33] Điều 39 (1) yêu cầu bên mua thông báo cho “bên bán”, và Điều 39 (2) yêu cầu bên bán phải “thông báo cho bên bán”
[34] Vụ kiện số 220, Thụy Sỹ, 3/12/1997
[35] Vụ kiện số 411, Đức, ngày 24/1/1996
[36] Vụ kiện số 541, Áo, 14/1/2002 (điều khoản yêu cầu bên mua gửi thông báo khiếu nại về sự không phù hợp trong vòng 8 ngày kể từ ngày nhận được hàng hóa)
[37] Vụ kiện số 336, Thụy Sỹ, 8/6/1999; Vụ kiện số 50, Đức, 14/8/1991
[38] Vụ kiện số 237, Viện Trọng tài của Phòng Thương mại Stockholm, 5/6/1998
[39] Vụ kiện số 542, Áo, 17/4/2002
[40] Vụ kiện số 123, Đức, 8/3/1995
[41] Vụ kiện số 90, Ý, 24/11/1989
[42] Vụ kiện số 130, Đức, 14/1/1994
[43] Vụ kiện số 275, Đức, 24/4/1997
[44] Vụ kiện số 171, Đức, 3/4/1996
[45] Vụ kiện số 150, Pháp, 23/1/1996
[46] Vụ kiện số 107, Áo, 1/7/1994
[47] Vụ kiện số 171, Đức, 3/4/1996
[48] Vụ kiện số 171, Đức, 3/4/1996
[49] Vụ kiện số 171, Đức, 3/4/1996
[50] Vụ kiện số 480, Pháp, 12/6/2001
[51] Xem Điều 61 (1) và 62
[52] Vụ kiện số 378, Ý, 12/7/2000
[53] Vụ kiện số 123, Đức, 8/3/1995
[54] Vụ kiện số 251, Thụy Sỹ, 30/11/1998
[55] Vụ kiện số 167, Đức, 8/2/1995
[56] Vụ kiện số 423, Áo, 27/8/1999
[57] Vụ kiện số 230, Đức, 25/6/1997; Vụ kiện số 270, Đức, 25/11/1998
[58] Vụ kiện số 232, Đức, 11/3/1998
[59] Vụ kiện số 170, Đức, 12/10/1995
[60] Vụ kiện số 98, Hà Lan, 19/12/1991
[61] Vụ kiện số 319, Đức, 3/11/1999; Vụ kiện số 423, Áo, 27/8/1999
[62] Vụ kiện số 634, Đức, 21/3/2003; Vụ kiện số 541, Áo, 14/1/2002
[63] Điều 69 Công ước
[64] Vụ kiện số 541, Áo, 14/1/2002
[65] Vụ kiện số 290, Đức, 3/6/1998; Vụ kiện số 98, Hà Lan, 19/12/1991
[66] Vụ kiện số 56, Thụy Sỹ, 27/4/1992;
[67] Landgericht Duseldorf, Đức, 23/6/1994
[68] Vụ kiện số 315, Pháp, 26/5/1999
[69] Vụ kiện số 359, Đức, 18/11/1999; Vụ kiện số 284, Đức, 21/8/1997