Hiển thị các bài đăng có nhãn HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2016

kết hôn với người nước ngoài cần những thủ tục gì

kết hôn với người nước ngoài cần những thủ tục gì
Kết hôn với người nước ngoài 2016

Hỏi: Tôi là người có quốc tịch Việt Nam nhưng sang Mỹ làm việc đã được 2 năm, hiện nay đã trở về Vệt Nam. Trong thời gian ở Mỹ tôi có quen biết một người đàn ông Mỹ, cho đến nay chúng tôi quyết định tiến tới hôn nhân và sẽ cùng làm việc, sinh sống tại Việt Nam. Vậy xin hỏi trường hợp của tôi muốn làm thủ tục kết hôn tại Việt Nam thì cần tiến hành theo trình tự như thế nào, hồ sơ cần những gì?
Trả lời: Trước hết tư vấn Luật VALAW xin cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới cho chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:
1.     Trình tự thực hiện việc kết hôn có yếu tố nước ngoài
Theo Luật Hộ tịch mới số 60/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 1-1-2016, thủ tục đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định cụ thể như sau:
Bước 1
Nộp hồ sơ đăng ký kết hôn
Hồ sơ đăng ký kết hôn được hai bên nam, nữ nộp trực tiếp tại Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp quận/huyện
Bước 2
Xử lí hồ sơ
a)Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp tiến hành nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ và xác minh nếu thấy cần thiết

Nếu hồ sơ hợp lệ, các bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và trình ký 02 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

Ngược lại việc đăng ký kết hôn bị từ chối nếu một hoặc cả hai bên vi phạm điều cấm hoặc không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Ủy ban nhân dân cấp huyện từ chối đăng ký kết hôn, Phòng Tư pháp thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho hai bên nam, nữ.
Bước 3
Trao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và ký tên vào Sổ hộ tịch
a)     Hai bên nam, nữ có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân
Cán bộ phòng tư pháp hộ tịch hỏi ý kiến hai bên nam, nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn (02 bản chính).

b)Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn, Phòng Tư pháp tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Giấy chứng nhận kết hôn có giá trị kể từ ngày được ghi vào sổ và trao cho các bên.

Trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì theo đề nghị bằng văn bản của họ, Phòng Tư pháp gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết hôn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn. Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký.

Nếu sau đó hai bên nam, nữ vẫn muốn kết hôn với nhau thì phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu.

2.    Thành phần hồ sơ bạn cần chuẩn bị bao gồm:
Đối với bạn là công dân Việt Nam thì cần có:
(ii) Bản chính một trong các giấy tờ như: Hộ chiếu, Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng để chứng minh nhân thân;
(iii) Bản gốc Sổ hộ khẩu (để chứng minh nơi đăng ký thường trú và để xác định thẩm quyền Đăng ký kết hôn)
(iv) Bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bên Việt Nam
(v) Bản chính Giấy xác nhận của Tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;
b)     Đối với chồng sắp cưới của bạn là người nước ngoài thì cần chuẩn bị:
(i) Tờ khai đăng ký kết hôn;
(ii) Bản chính Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị tương tự khác (nếu người nước ngoài không có hộ chiếu)
(iii) Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng; trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó.
(iv) Bản chính Giấy xác nhận của Tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam của của nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;
Hy vọng sự tư vấn của chúng tôi đã giải đáp được thắc mắc của bạn!


Thứ Hai, 27 tháng 6, 2016

ĐƠN XIN LY HÔN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------oOo---------
Bà Rịa – Vũng Tàu, ngày 08  tháng 08  năm 2006

ĐƠN XIN LY HÔN

Kính gửi: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH

Họ và tên người làm đơn:  Nguyễn Chí Công    Sinh năm:  1962  
Nghề nghiệp:  Làm ruộng       
Nơi đăng ký HKTT: Khu 1, Thôn Ngọc Hà, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa  Vũng Tàu. 
Chỗ ở hiện tại: Khu 1, Thôn Ngọc Hà, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. 
Họ và tên vợ:  Võ Thị Hận                                  Sinh năm:  1960  
Nghề nghiệp: Làm ruộng        
Nơi đăng ký HKTT: Khu 1, Thôn Ngọc Hà, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. 
Chỗ ở hiện tại: Khu 1, Thôn Ngọc Hà, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. 
Tôi làm đơn này khởi kiện vụ án ly hôn với chị Võ Thị Hận, nội dung cụ thể như sau:
Qua quá  trình tìm hiểu, tôi và chị Võ Thị Hận đã tiến hành đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 366 do UBND xã Phú Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22 tháng 02 năm 1983. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng tôi chung sống tại Khu 1, Thôn Ngọc Hà, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.       Qua bốn năm chung sống hòa thuận, đến năm 1987 vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Tôi đi làm ăn xa, mỗi khi veeg nhà thì vợ chồng tôi lại xảy ra xung đột, bản thân vợ tôi không tôn trọng chồng, gia đình nhà chồng, nặng nề hơn nữa vợ tôi còn có hành vi chửi mắng cả cha mẹ chồng. Từ năm 2006 tôi và bà Hận sống ly thân cho đến nay. Việc này đã được toàn thể anh em gia đình hai bên cũng như hàng xóm láng giềng đều biết rõ.
Nhưng mâu thuẫn giữa vợ chồng tôi đã được gia đình, bạn bè, người thân khuyên giải để hàn gắn, UBND xã cứng đã hòa giải nhưng vợ tôi không có sự thay đổi còn có biểu hiện bằng lời nói và hành động thách thức chồng.
Từ những lý do tôi trình bày trên, tôi làm đơn này kính đề nghi quý Tòa giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân:
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài  được, tôi đề nghị quý Tòa chấp nhận Đơn khởi kiện của tôi, chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa tôi và bà Võ Thị Hận.
Về con chung:
1. Nguyễn Minh Hiếu    Sinh năm 1984
2. Nguyễn Thị Nga        Sinh năm 1985
Hiện tại, 2 con tôi đã trưởng thành và có thể thể sống tự lập. Việc các cháu về sống với ai do các cháu tự quyết định, tôi không có ý kiến gì.
Về tài sản:
-  Tài sản chung của vợ chồng tôi gồm có:  1 căn nhà cấp 4A 5 và nhà tạm A¹
Tôi đề nghị quý Tòa tiến hành thẩm định giá trị và chia theo quy định của pháp luật.
- Tài sản của riêng của tôi:
 Quyền sử dụng đất tại địa chỉ Khu 1, Thôn Ngọc Hà, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Theo giấy chứng nhận  quyền sử dụng đất số 03039/QSDĐ/1772-QĐUB do UBND huyện Tân Thành cấp ngày 09 tháng 12 năm 2002 tại thửa số 1068 tờ bản đồ số 04.
          Tôi đề nghị quý Tòa công nhận quyền sử dụng thửa đất này thuộc về tôi.         
Về công nợ:
Về công nợ, chúng tôi không có bất kỳ khoản nợ nào.
Xin chân thành cảm ơn!
  Hồ sơ kèm theo:                                                                                                                                                   Bà Rịa – Vũng Tàu, ngày 08  tháng 08  năm 2006
-  Đăng ký kết hôn (bản chính);
-  Bản sao giấy khai sinh của các con (chứng thực);
-  Bản sao Sổ Hộ khẩu (chứng thực);
-  Bản saochứng minh thư (chứng thực);
-  
Các giấy tờ về nhà đất, tài sản có giá trị khác (bản sao có chứng thực);

Người làm đơn

Nguyễn Chí Công

Các trường hợp được xác định là con chung của vợ chồng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

I. MỞ ĐẦU
          Trong đời sống xã hội, người phụ nữ (dù có chồng hay không có chồng) mà sinh con đã là cơ sở làm phát sinh mối quan hệ giữa mẹ - con, cha - con.  Nhà nước bằng pháp luật quy định nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con. Vì đó là cơ sở nhằm xác thực mối quan hệ mẹ - con, cha – con, từ đó mới phát sinh các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản trong quan hệ mẹ - con, cha - con đồng thời là cơ sở pháp lý để Tòa án giải quyết các tranh chấp về việc xác định cha, mẹ và con trong thực tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con. Tuy nhiên việc xác định cha, mẹ, con trong thực tế lại không phải là vấn đề đơn giản. Được sự phân công của tổ bộ môn, sau đây em xin được nghiên cứu đề tài: “Các trường hợp được xác định là con chung của vợ chồng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này” để phần nào làm rõ hơn vấn đề này.

II. NỘI DUNG
1.Trường hợp con sinh ra là con trong giá thú.
a. Nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con trong giá thú
          Con trong giá thú là con mà cha mẹ là vợ chồng trước pháp luật.
          Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 của Nhà nước ta chưa dự liệu về nội dung nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ cho con trong giá thú cũng như con ngoài giá thú. Thông thường khi nam nữ kết hôn với nhau, trở thành vợ chồng, trong thời kỳ hôn nhân mà người vợ sinh con thì con đó mặc nhiên được coi là con chung của hai vợ chồng. Hệ thống pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình ở nước ta dưới chế độ cũ đã dựa hẳn vào quy định của Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp (Điều 311, Điều 312) để quy định nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ cho con, với nội dung: “Đứa trẻ thành thai trong thời kỳ giá thú có cha là chồng người mẹ. Được coi là thụ thai trong thời kỳ giá thú trẻ nào sinh quá 180 ngày kể từ khi kết hôn hoặc không quá 300 ngày sau khi hôn thú đoạn tiêu”. Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 của Nhà nước ta đã xác định nội dung nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ cho con khác với pháp luật dưới chế độ cũ. Ngày nay nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu trước khi kết hôn. Có nhiều trường hợp hai bên nam nữ đã có quan hệ sinh lý với nhau, hoặc người phụ nữ đã thụ thai trước khi kết hôn; sau khi kết hôn với nhau được một thời gian ngắn, người vợ đã sinh con. Vì vậy, Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định trên nguyên tắc:
“1. Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.
 Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định
Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định”.
          Theo quy định trên, thời kì hôn nhân là khoảng thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại, được tính từ khi hai người kết hôn đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật. Nếu người vợ sinh con trong thời kì hôn nhân này, về nguyên tắc, con đó được xác định là con chung của vợ chồng, tức là người chồng của mẹ đứa trẻ được xác định là cha của đứa trẻ đó. Cũng theo khoản 1 Điều 63, được coi là “người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” là kể từ khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật, nếu trong hạn 300 ngày (người vợ chưa kết hôn với người khác) mà sinh con thì con đó cũng được xác định là con chung của vợ chồng.
Theo nguyên tắc suy đoán pháp lí này, mỗi khi sinh con người phụ nữ không cần phải chứng minh chồng mình là cha của đứa trẻ do mình sinh ra, cũng như không được ngăn cản chồng mình thực hiện quyền là cha của đứa trẻ do mình sinh ra. Người chồng đương nhiên được xác định là cha của đứa trẻ đó và được thực hiện quyền làm cha của mình. Pháp luật đã căn cứ vào thời kì hôn nhân của vợ chồng để suy đoán mối quan hệ cha mẹ và con. Khi nam nữ trở thành vợ chồng của nhau đều xuất phát từ yếu tố tình cảm; giữa họ phát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lí theo luật định như nghĩa vụ chung thuỷ, thương yêu quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau… Mặt khác, do tác động của nhiều yếu tố khác như điều kiện kinh tế, xã hội… có ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về tình yêu và hôn nhân gia đình nên không ít trường hợp người vợ có thai trước thời kì hôn nhân hoặc thậm chí sinh con trước thời kì hôn nhân thì đa số là do vợ chồng đã có quan hệ sinh lí trước thời kì hôn nhân nên pháp luật vẫn suy đoán là con chung của vợ chồng. Điều này đảm bảo quyền lợi không chỉ của đứa trẻ mà còn bảo vệ quyền của người vợ, người mẹ trong gia đình. Ngay cả trong trường hợp sau khi quan hệ hôn nhân đã chấm dứt mà người vợ sinh con trong một thời gian luật định (trong vòng 300 ngày kể từ khi chấm dứt quan hệ hôn nhân) thì pháp luật vẫn xác định là con chung của vợ chồng. Điều đó đảm bảo ổn định quan hệ cha mẹ và con đồng thời giúp cho người phụ nữ yên tâm thực hiện thiên chức của mình.
          Trên thực tế có một số trường hợp người chồng nghi ngờ người vợ không chung thủy, đã có hành vi thông gian, ngoại tình với người khác,… nên sau khi người vợ sinh đứa trẻ ra thì người chồng không nhận đứa trẻ đó là con của mình. Để đảm bảo quyền và lợi ích cho đứa trẻ cũng như người mẹ, trong trường hợp này luật đã quy định rõ, nếu cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ xác thực và phải được Tòa án công nhận (khoản 2 Điều 63). Về nguyên tắc, người chồng khi không thừa nhận đứa trẻ là con của mình thì phải có nghĩa vụ chứng minh được điều đó. Việc chứng minh của người chồng có thể dựa trên sự thừa nhận tự nguyện của người vợ là đã có thai với người khác, hoặc người chồng chứng minh được đã đi công tác trong thời gian người vợ có khả năng thụ thai đứa con đó (theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao), hoặc có thể trưng cầu giám định gen. Nếu người chồng chỉ vì nghi ngờ không chứng minh được thì Tòa án vẫn buộc người đó phải nhận đứa trẻ do người vợ sinh ra là con chung của vợ chồng. Ngược lại, nếu người vợ không thừa nhận đứa trẻ là con của mình thì cũng phải đưa ra những bằng chứng xác thực để chứng minh.
=> Như vậy, dựa vào các căn cứ trên, con chung của vợ chồng được xác định trong các trường hợp sau:
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn nhưng được cha mẹ thừa nhận. Tức là khi con sinh ra, cha mẹ của đứa con đó chưa chính thức trở thành vợ chồng trước pháp luật nên đứa trẻ không thể được coi là con trong giá thú được, nhưng sau khi cha mẹ kết hôn và thừa nhận đứa con đó thì đứa con sẽ trở thành con trong giá thú. Luật Hôn nhân và gia đình quy định điều này là để phù hợp với sự phát triển của xã hội ngày nay. Chúng ta biết rằng xã hội ngày nay có rất nhiều đôi nam nữ có quan hệ sinh lý trước khi kết hôn thậm chí là có con trước khi kết hôn. Đồng thời cũng là để đảm bảo quyền lợi của những đứa trẻ được sinh ra trước ngày cha mẹ chúng trở thành vợ chồng hợp pháp.
- Con được thụ thai trước ngày đăng kí kết hôn và được sinh ra trong thời kì hôn nhân: Do pháp luật chỉ quy định con sinh ra trong thời kì hôn nhân là con chung của vợ chồng mà không nói rõ thời gian mang thai bắt đầu từ ngày nào, do đó ở bất kể thời điểm nào trong thời kì hôn nhân người vợ sinh con thì đứa trẻ đó là con chung của vợ chồng.
- Con được thụ thai và sinh ra trong thời kì hôn nhân. Theo quy định trên đây, thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại, được tính từ khi kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật (do người chồng chết hoặc vợ chồng ly hôn, tính từ khi phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật). Nếu người vợ sinh con trong thời kỳ hôn nhân này, về nguyên tắc, con đó được xác định là con chung của hai vợ chồng. Tức là người chồng của mẹ đứa trẻ được xác định là cha của đứa trẻ đó.
- Con được thụ thai trong thời kì hôn nhân và sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt. Trong trường hợp này, việc xác định thời điểm thụ thai đứa trẻ so với thời điểm hôn nhân chấm dứt là rất cần thiết. Nếu đứa trẻ được sinh ra trong vòng 300 ngày sau đó thì theo quy định của pháp luật, đứa trẻ mặc nhiên được xác định là con do người vợ có thai với người chồng khi còn sống hoặc khi vợ chồng chưa ly hôn. Tuy nhiên theo tinh thần của Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thực tế cho thấy rằng, trường hợp quan hệ hôn nhân chấm dứt trước pháp luật (từ ngày người chồng chết hoặc phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật), người vợ không đợi sau 300 ngày đã kết hôn ngay với người khác; nếu sau này người vợ sinh con thì con đó được xác định là “con chung của vợ chồng”, tức là con của người chồng lấy sau (theo nguyên tắc suy đoán “con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”)
b. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật vấn đề này.
- Theo tinh thần khoản 1 Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, được coi là “người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” là kể từ khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật, nếu trong hạn 300 ngày (người vợ chưa kết hôn với người khác) mà sinh con thì con đó cũng được xác định là con chung của vợ chồng (điều này được quy định cụ thể ở Nghị định 70/2002 NĐ - CP). Trên thực tế thì rất ít (hầu như không có) đứa trẻ nào sau 300 ngày (tức là khoàng 10 tháng) mới được sinh ra. Y học ngày nay rất phát triển, có những đứa trẻ chỉ khoảng 6 tháng đã được sinh ra và vẫn có khả năng nuôi được, thế nên khoảng thời gian 300 ngày theo thực tế hiện nay là không hợp lý nữa, việc quy định khoảng thời gian 300 ngày vô hình chung “tạo điều kiện thuận lợi” để người vợ mang thai với người đàn ông khác chứ không phải chồng mình. Theo ý kiến của em, các nhà làm luật nên sửa lại khoảng thời gian đứa trẻ được sinh ra từ khi hôn nhân của người vợ và người chồng chấm dứt, thay vì quy định 300 ngày, nên giảm xuống là 200-250 ngày.
- Trong trường hợp người chồng không thừa nhận đứa trẻ do vợ mình sinh ra là con của mình thì có Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành còn trường hợp người vợ muốn phủ nhận đứa trẻ là con mình thì chưa có văn bản nào cụ thể hướng dẫn thi hành. Thực tế có một số trường hợp các bác sỹ, y tá do vô ý hoặc cố ý nên xác định nhầm đứa trẻ do người mẹ sinh ra, trường hợp này tuy không gặp nhiều nhưng không phải là không có. Theo em nhà làm luật nên quy định cụ thể hơn về vấn đề này.
2. Trường hợp con sinh ra là con ngoài giá thú.
a. Nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con ngoài giá thú
          Con ngoài giá thú là con mà cha mẹ không phải là vợ chồng hợp pháp; hoặc tuy cha mẹ ăn ở, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Bao gồm một số trường hợp sau:
- Người mẹ không có chồng mà sinh con;
- Người mẹ có chồng nhưng ngoại tình, có con với người khác;
- Hai bên nam nữa chung sống với nhau như vợ chồng, trong thời gian sống chung giữa hai người có con chung với nhau nhưng cha mẹ của đứa trẻ không đăng ký kết hôn (kể cả trường hợp hai vợ chồng đã ly hôn, phán quyết ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực sau đó họ lại tái hợp cùng sông với nhau nhưng không đi đăng ký kết hôn lại. Trường hợp người mẹ sinh con trong thời gian này thì đứa con đó là con chung ngoài giá thú)
          Vấn đề xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú trong thực tiễn rất phức tạp, vì giữa cha, mẹ của người con không có hôn nhân hợp pháp thì không thẻ suy đoán theo nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Đối với trường hợp yêu cầu Tòa án xác định cha cho con ngoài giá thú, có thể dựa vào những căn cứ sau:
- Trong thời gian người mẹ có thể thụ thai đứa trẻ, người đàn ông này với mẹ đứa trẻ chung sống với nhau như vợ chồng (chung sống công khai).
- Trong thời gian người mẹ có thể thụ thai đứa trẻ, người đàn ông này với mẹ đứa trẻ yêu thương nhau hoặc định kết hôn với nhau.
- Trong thời gian người mẹ có thể thụ thai đứa trẻ đã bị người đàn ông này cưỡng dâm hoặc hiếp dâm.
- Có thư từ hoặc giấy tờ do người đàn ông này viết hoặc xác nhận đứa trẻ là con của họ.
- Khi đứa trẻ được sinh ra người đàn ông này chăm sóc yêu thương đứa trẻ như con mình.
          Với các căn cứ trên có thể thấy luật hiện nay chủ yếu chỉ dựa vào thời gian người phụ nữ có thể thụ thai, người phụ nữ đó có quan hệ với người đàn ông bị nghi vấn là cha đứa trẻ hay không. Tất cả những căn cứ trên đều chỉ mang tính chất suy đoán. Có thể thấy chỉ có căn cứ đầu tiên người đàn ông chung sống với mẹ đứa trẻ như vợ chồng một cách công khai là căn cứ mức có suy đoán đúng nhất, những căn cứ còn lại suy đoán đều không có tính xác thực. Căn cứ thứ hai, trong thời gian người mẹ có thể thụ thai đứa trẻ, người đàn ông này với mẹ đứa trẻ yêu thương nhau hoặc định kết hôn với nhau và căn cứ thứ ba, trong thời gian người mẹ có thể thụ thai đứa trẻ đã bị người đàn ông này cưỡng dâm hoặc hiếp dâm đều không có tính chính xác cao. Thực tế cho thấy rằng rất nhiều người phụ nữ yêu một người hoặc đến vài người nhưng trong số họ chưa chắc là người đã kết hôn với người phụ nữ đó, hoặc có những người phụ nữ có số phận không may mắn làm “tiếp viên” trong các quán bar, vì vậy nếu cứ quy trách nhiệm cho những người đàn ông này có thể thấy các thì căn cứ trên không còn chính xác cao như căn cứ đầu tiên nữa. Tiếp đến căn cứ thứ tư, có thư từ hoặc giấy tờ do người đàn ông này viết hoặc xác nhận đứa trẻ là con của họ. Xã hội hiện nay khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin ngày càng phát triển, vậy nên trường hợp viết thư tình cảm với nhau là chuyện rất hiếm hoi, thường là không còn nữa. Do tính chất không hợp với xã hội hiện đại bây giờ nên căn cứ này không còn phù hợp nữa. Căn cứ thứ năm, khi đứa trẻ được sinh ra người đàn ông này chăm sóc yêu thương đứa trẻ như con mình.. Xã hội ngày nay cũng không thiếu gì người tốt, những người có tấm lòng hảo tâm hay chỉ là bạn vè với nhau cũng có thể quan tâm, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn. Vậy nên, nếu cứ coi người đàn ông chăm sóc yêu thương đứa trẻ như con mình chính là cha đứa trẻ thì thực sự có rất nhiều và căn cứ này cũng không có tính chất đúng đắn cao như căn cứ đầu tiên.
=> Như vậy, dựa vào các căn cứ trên, con chung của vợ chồng được xác định trong các trường hợp sau:
- Thứ nhất, con được thụ thai do cha, mẹ chung sống với nhau như vợ chồng không có đăng ký kết hôn. Khái niệm chung sống như vợ chồng trong trường hợp này cần phải hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm cả trường hợp hai bên nam nữ chỉ quan hệ sinh lý với nhau trong khoảng thời gian có thể thụ thai đứa con. Quan hệ này có thể là công khai hoặc lén lút và kết quả là đứa trẻ đó ra đời từ quan hệ đó. Khi có đủ căn cứ trên, về nguyên tắc hai bên nam nữ được xác định là cha mẹ của đứa con đó.
- Thứ hai, con được sinh ra do người mẹ không có chồng: Việc xác định cha đứa con này được dựa vào căn cứ: trong thời gian có thể thụ thai đứa con, người mẹ của đứa con đã ngoại tình với ai, có quan hệ sinh lý với ai hoặc người mẹ này đã bị hiếp dâm, cưỡng dâm để xác định người đàn ông đó là cha của đứa con này.
- Thứ ba, con được thụ thai hoặc sinh ra khi cha mẹ kết hôn trái pháp luật và tòa án đã hủy việc kết hôn đó: Đối với trường hợp này, bởi vì việc kết hôn bị hủy nên coi như cha mẹ của đứa con chưa từng kết hôn, chưa từng tồn tại thời kỳ hôn nhân. Quan hệ giữa cha mẹ đứa trẻ coi như được chung sống với nhau như vợ chồng.
          Thực tế giải quyết các tranh chấp về xác định cha, mẹ và con ngoài giá thú rất phức tạp, gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Người thẩm phán giải quyết vụ việc đòi hỏi phải là người có trình độ pháp luật, vốn sống, kinh nghiệm thực tế, am hiểu và nắm được các đặc tính về tâm lý của đương sự. Đồng thời trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, cần kết hợp với các biện pháp khác như giám định y học: thử máu, khả năng sinh lý và đặc biệt là giám định về gen khi có yêu cầu… Tòa án cần đánh giá tổng hợp các chứng cứ để có quyết định chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Quá trình điều tra để giải quyết vụ kiện, tòa án cũng có thế điều tra thông qua dư luận xã hội, bạn bè, gia đình hai bên đương sự cho biết về mối quan hệ tình cảm yêu đương giữa người mẹ đứa trẻ với người đàn ông được khai là cha của đứa trẻ đó, hoặc dựa vào hoàn cảnh của cha mẹ trong thời kỳ người con trưởng thành hay qua lời ngụy biện của đương sự tại tòa án (có trường hợp trước khi chết, hoặc khi người con đã trưởng thành, người mẹ, người cha hoặc cả hai người mới thừa nhận người con đó là con của mình; hoặc đương sự lập luận quanh co, có nhiều mâu thuẫn trong lời khai khi bị chất vấn…).
b. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật vấn đề này
          Với các căn cứ nêu trên cho thấy, em thấy rằng hiện nay luật chủ yếu chỉ căn cứ vào thời gian người phụ nữ có thể thụ thai, người phụ nữ đó có quan hệ với người đàn ông bị nghi vấn là cha của đứa trẻ hay không. Thêm vào đó, một số căn cứ mà văn bản dưới luật đưa ra cũng không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện nay nữa. Cũng chính vì vậy mà việc xác định con ngoài giá thú gây khó khăn rất nhiều cho các thẩm phán khi đưa ra phán quyết bơi không phải người nào cũng có điều kiện và thời gian để đi giám định AND. Dù rằng chỉ mang ý nghĩa tương đối nhưng trong LHNGĐ sửa đổi cần quy định những bằng chứng này. Ngoài ra, có thể quy định thêm các biện pháp y học cần thiết, điều này sẽ làm tăng độ chính xác trong việc xác định quan hệ cha mẹ và con nói chung, đặc biệt là xác định quan hệ cha con đối với con ngoài giá thú.
          Trong trường hợp người phụ nữ sinh con mà không có quan hệ hôn nhân (tức là sinh con ngoài giá thú), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ quy định những chủ thể có quyền yêu cầu xác định quan hệ cha mẹ và con, mà không quy định cụ thể việc xác định này phải dựa trên cơ sở nào. Đây cũng là 1 sự thiếu sót mà Luật Hôn nhân và gia đình khi sửa đổi cần phải bổ sung thêm.



III. KẾT LUẬN
          Vấn đề xác định cha, mẹ, con (kể cả con trong giá thú hoặc con ngoài giá thú) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thân phận của mỗi cá nhân trong xã hội. Quan hệ pháp luật này được xác thực liên quan tới quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ này, cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên khác trong gia đình. Quy định nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con là cơ sở giải quyết các tranh chấp đối với loại án kiện xác định cha, mẹ, con trong thực tế; liên quan đến việc giải quyết ổn thỏa, chính xác các tranh chấp về cấp dưỡng, nuôi dưỡng, thừa kế, bồi thường thiệt hại… theo quy định của pháp luật.
Bài viết của em còn nhiều thiếu sót, mong các thầy cô chỉnh sửa và xem xét để bài viết này được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn !