Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT CẠNH TRANH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT CẠNH TRANH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2016

Thực trạng pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng tại Việt Nam

A.    LỜI MỞ ĐẦU
        Sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã đặt người tiêu dùng vào khung cảnh mới- đó là sự đan xen giữa những lợi ích và phạm vi lựa chọn rộng rãi, cùng với đó là những phương thức kinh doanh gian dối, thiếu trung thực và được ngụy trang dưới nhiều hình thức tinh vi hơn. Do đó, vấn đề tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh xảy ra ngày một nhiều hơn. Để có thể hiểu rõ vè vấn đề này, em xin nghiên cứu vấn về “ Thực trạng pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng tại Việt Nam”
B.     NỘI DUNG
I. Tìm hiểu khái quát về tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân
1. Khái niệm tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ( tổ chức, cá nhân kinh doanh).
Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau song nhiều nhà khoa học đã thống nhất cho rằng: tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia quan hệ tiêu dùng. Theo đó, tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân có thể có những dạng cơ bản sau:
-         Tranh chấp về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ được cung ứng;
-         Tranh chấp về thực hiện các nghĩa vụ bảo hành, thu đổi hàng hóa, trả lại tiền, thu hồi hàng hóa theo quy định của pháp luật;
-         Tranh chấp về các điều kiện giao dịch chung và hợp đồng theo mẫu của tổ chức, cá nhân cung ứng hàng hóa, dịch vụ;
-         Tranh chấp về hành vi lừa dối hoặc gây nhầm lẫn của thương nhân cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác;
-         Tranh chấp về hành vi ép buộc, quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ của thương nhân trái với ý muốn của người tiêu dùng;
-         Tranh chấp về nghĩa vụ đảm bảo thông tin an toàn, bí mật thông tin của người tiêu dùng khi tham gia giao dịch , sử dụng hàng hóa, dịch vụ;
           Bên cạnh đó, tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh còn được hiểu là sự bất đồng về một hiện tượng pháp lý trong đời sống tiêu dùng giữa nhà cung ứng và người tiêu dùng: như sự kiện bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm; quyền bảo lưu ( quyền rút khởi hợp đồng) của người tiêu dùng khi giao kết các hợp đồng theo mẫu,… hoặc gắn liền với yêu cầu đảm bảo an toàn khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ, chẳng hạn như: mức độ và phương thức thực hiện cảnh báo khi sử dụng hàng hóa; dịch vụ, nghĩa vụ thông tin nhằm sử dụng sản phẩm an toàn[1] của nhà cung ứng khi cung ứng hàng hóa, dịch vụ,…
2. Đặc điểm tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ( tổ chức, cá nhân kinh doanh).
          Thứ nhất, về lĩnh vực phát sinh tranh chấp. Đây là loại hình tranh chấp phát sinh trong quan hệ tiêu dùng – điểm cuối trong chuỗi phân phối hàng hóa, dịch vụ. Do đó, trong quan hệ tiêu dùng không tồn tại sự phân phối lại. Bởi thế, người tiêu dùng luôn phải đối mặt với các rủi ro đối với hàng hóa, dịch vụ được chuyển giao từ các chuỗi phân phối trước đó.
           Thứ hai, về chủ thể của tranh chấp. Tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân là loại hình tranh chấp phải có một bên tham gia là người tiêu dùng – là người mua; sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, gia đình, tổ chức [2].
          Thứ ba, về nội dung của các tranh chấp. Nội dung các tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân chủ yếu liên quan đến các nghĩa vụ của thương nhân trong quá trình đưa hàng hóa, dịch vụ của mình vào lưu thông;
Thứ tư, về thời điểm phát sinh tranh chấp. Từ yêu cầu đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, [3]tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân có thể phát sinh ngay khi hàng hóa, dịch vụ của thương nhân chưa chính thức tham gia lưu thông ( ví dụ: thuốc chữa bệnh, năng lượng hạt nhân, thực phẩm biển đổi gen,…). Khởi nguồn của những tranh chấp này thường bắt đầu từ những người tiêu dùng tình nguyện (dùng thử) và các tổ chức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
         Thứ năm, về hệ quả xã hội của tranh chấp.  Tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân có thể dẫn tới những phản ánh tiêu cực từ phía cộng đồng tiêu dùng và toàn xã hội như: tẩy chay tập thể đối với toàn bộ sản phẩm mà thương nhân cung ứng, sản phẩm có xuất xứ từ quốc gia, vùng lãnh thổ, công khai phổ biến các thông tin chưa được kiểm chứng về sản phẩm,… Bởi vậy, việc đảm bảo thông tin trung thực trong quá trình giải quyết tranh chấp luôn là mục tiêu ưu tiên trong chính sách và pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở các quốc gia trên thế giới.
II. Thực trạng pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Việt Nam
Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải tỏa các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được.
          Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân phải đáp ứng được như yêu cầu sau:
          Thứ nhất, phải huy động được sức mạnh của toàn xã hội, trong đó có vai trò tích cực của bản thân mỗi người tiêu dùng. Bản chất của bảo vệ người tiêu dùng bắt đầu từ định chuẩn, đăng kí chuẩn, hỗ trợ liên kết sức mạnh của người tiêu dùng cho tới thực thi pháp luật những công việc như vậy thuộc nhiều tổ chức, cơ quan như hiệp hội, truyền thông, báo chí, hành chính công tố và tòa án. Thêm vào đó, sức mạnh này chỉ có thể được củng cố và gây sức ép đối với các doanh nghiệp khi mỗi người tiêu dùng có ý thức chủ động và trách nhiệm xã hội trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.
          Thứ hai, khắc phục vị thế bất cân xứng trong mối quan hệ giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Vị thế bất cân xứng của người tiêu dùng là do thiếu thông tin, kinh nghiệm, khả năng đàm phán và tài chính nên thường phải chịu những rủi ro trong giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh cung ứng hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là những rủi ro về pháp lý.
          Thứ ba, đảm bảo sự hài hòa lợi ích của người tiêu dùng , doanh nghiệp và lợi ích chung của toàn xã hội. Khắc phục vị thế bất cân xứng của người tiêu dùng không có nghĩ là bảo vệ người tiêu dùng bằng mọi giá, bỏ qua các quyền và lợi ích hợp pháp của thương nhân cung ứng hàng hóa, dịch vụ, Trong mọi trường hợp, lợi ích chung của toàn xã hội sẽ là thước đo đánh giá các thể chế bảo vệ người tiêu dùng nói chung, các phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh nói riêng.
             Thứ tư, do số lượng các tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ngày càng tăng, với giá trị tranh chấp không lớn nên việc giải quyết tranh chấp đòi hỏi phải nhanh chóng, thuận lợi, kinh tế, bằng hình thức đơn giản và hiệu quả.
2.1 Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân bằng thương lượng
2.1.1. Khái niệm: Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân không cần đến vai trò của bên thứ ba.. Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày quan điểm, chính kiến, bàn bạc tìm các biện pháp thích hợp, và đi đến thống nhất thỏa thuận để tự giải quyết các bất đồng.
2.1.2.Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng bằng thương lượng tại Việt Nam
        Ở Việt Nam, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng được ghi nhận  chính thức như là một hình thức giải quyết tranh chấp độc lập. Đối với quan hệ tiêu dùng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (Luật BVQLNTD 2010) thừa nhận thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp, quy định tại Khoản 1 Điều 30 Luật BVQLNTD như sau: “Người tiêu dùng có quyền gửi yêu cầu đến tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để thương lượng khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.”. Theo đó, hình thức này chỉ bị hạn chế khi tranh chấp gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng và lợi ích công cộng, Điều này được quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật BVQLNTD 2010.
Khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng có quyền gửi yêu cầu đến tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để thương lượng khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm tiếp nhận, tiến hành thương lượng với người tiêu dùng trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu [4]
         Mặc dù, tại Điều 32 Luật BVQLNTD 2010 có quy định: “Kết quả thương lượng thành của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với người tiêu dùng được lập thành văn bản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Song lại không đề cập đến giá trị pháp lý của kết quả thương lượng nêu trên.
        Thực tế cho thấy, dù thương lượng có nhiều những ưu điểm như vậy nhưng ở Việt Nam hình thức này không được sử dụng rộng rãi. Có thể kể đến các nguyên nhân cơ bản như:
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh không ý thức được trách nhiệm xã hội của mình và thường lợi dụng vị thế bất cân xứng về thông tin trong quá trình cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng;
- Bản thân người tiêu dùng chưa nhận thức được quyền của mình và sử dụng các quyền đó để bảo vệ lợi ích của chính mình;
- Pháp luật Việt Nam thừa nhận hình thức giải quyết tranh chấp thương lượng song lại không thừa nhận khả năng cưỡng chế thi hành những cam kết của các bên trong biên bản thương lượng. Đây là rào cản lớn nhất khiến khi tham gia giải quyết tranh chấp bằng thương lượng thành, dễ xảy ra tình trạng thoái thác thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.
       Trên thực tế đã được ghi nhận tại Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam đã cho thấy nhiều kết quả thương lượng đã được ghi nhận song không được thực hiện bởi sự thiếu thiện chí của một bên. Không ít các tổ chức, cá nhân kinh doanh đã sử dụng thương lượng như một công cụ để né tránh dư luận xã hội, tránh sự can thiệp của cơ quan công quyền, thậm chí để kéo dài thời gian tiêu thụ sản phẩm đang bị khiếu nại.
2.2.  Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân bằng hòa giải
2.2.1 Khái niệm: Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên trong quá trình thương lượng có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên  nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết các xung đột nhằm chấm dứt các tranh chấp, bất hòa.
Hòa giải là giải pháp mang tính chất tự nguyện tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Đặc biệt là bên thứ ba với tính chất trung gian hòa giải có vị trí độc lập đối với các bên.
2.2.2. Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng bằng hòa giải tại Việt Nam
           Luật BVQLNTD đã quy định khá chi tiết về quyền lựa chọn phương thức hòa giải  tại Điều 33 Luật BVQLNTD năm 2010: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có quyền thỏa thuận lựa chọn bên thứ ba là cá nhân hoặc tổ chức hòa giải để thực hiện việc hòa giải.” Nguyên tắc hòa giải quy định tại Điều 34 của Luật BVQLNTD 2010:
“1. Bảo đảm khách quan, trung thực, thiện chí, không được ép buộc, lừa dối.
 2. Tổ chức, cá nhân tiến hành hòa giải, các bên tham gia hòa giải phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến việc hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
Tổ chức hòa giải được pháp luật quy định tại Điều 35: “Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ được thành lập tổ chức hòa giải để giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ” . Ngoài ra, Tổ chức hòa giải các tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân được quy định tại các Điều 31, 32 và 33 của Nghị định 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo đó, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thành lập, giải thể tổ chức hòa giải bao gồm: cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 31). Hòa giải viên phải đáp ứng các điều kiện làm hòa giải viên được quy định tại Điều 32: Là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, có ít nhất năm (5) năm kinh nghiệm công tác. Người đang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích không được làm hòa giải viên.
Điều 36 Luật BVQLNTD quy định về nội dung biên bản hòa giải như sau”
“1. Biên bản hòa giải phải có các nội dung chính sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân tiến hành hòa giải;
b) Các bên tham gia hòa giải;
c) Nội dung hòa giải;
d) Thời gian, địa điểm tiến hành hòa giải;
đ) Ý kiến của các bên tham gia hòa giải;
e) Kết quả hòa giải;
g) Thời hạn thực hiện kết quả hòa giải thành.
2. Biên bản hòa giải phải có chữ ký của các bên tham gia hòa giải và chữ ký xác nhận của tổ chức, cá nhân tiến hành hòa giải.”
    Các bên có trách nhiệm thực hiện kết quả hòa giải thành theo Điều 37 Luật BVQLNTD 2010  trong thời hạn đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải; trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện thì bên kia có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Mặc dù hòa giải là phương thức được sử dụng rộng rãi hơn, chiếm 80% các vụ việc khiếu nại của người tiêu dùng. Tuy nhiên, kết quả hòa giải nhiều khi không được các bên nghêm túc thực thi do giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành là không cao. Như vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, phương thức hòa giải vẫn có những hạn chế nhất định. Ở Việt Nam, giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng bằng hòa giải được dụng rất hạn chế vì:
      Một là, chưa tồn tại một khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho các hoạt động hòa giải tại Việt Nam mà trước hết là sự lựa chọn người hòa giải; quy trình hòa giải; giá trị pháp lý trong các khuyến nghị của hòa giải viên; hình thức quyết định của các bên; giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành…
     Hai là, cũng giống với thương lượng, pháp luật Việt Nam không thừa nhận khả năng cưỡng chế thi hành những cam kết của các bên trong biên bản hòa giải thành. Với hạn chế này, cácbên tranh chấp thường quyết định tiếp cận công lý dưới hình thức khác.
2.3.  Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân bằng trọng tài
2.3.1 Khái niệm: giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện. Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp xuất phát từ nhu cầu bảo vệ lợi ích của các thương nhân trong hoạt động kinh doanh.
2.3.2. Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng bằng hòa trọng tài tại Việt Nam
          Trong trường hợp người tiêu dùng và tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ vẫn chưa tìm được tiếng nói chung thông qua các phương thức như thương lượng hoặc hòa giải có thể thỏa thuận lựa chọn phương pháp là gửi đơn lên Trọng tài. Theo Luật BVQLNTD 2010, trọng tài được sử dụng như một cách giải quyết tranh chấp phát sinh khi có điều khoản trọng tài (Thuật ngữ dùng trong Luật Trọng tài thương mại 2010 là “thỏa thuận trọng tài”). Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giữa người tiêu dùng với thương nhân được quy định từ Điều 38 đến Điều 40 Luật BVQLNTD 2010. Bên cạnh đó, Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 cũng quy định:
“1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại
3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.”
          Tuy nhiên, để điều khoản trọng tài có hiệu lực, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải thông báo về điều khoản trọng tài trước khi giao kết hợp đồng và được người tiêu dùng chấp thuận. Theo điều 17 của Luật Trọng tài thương mại 2010 thì: “Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn trọng tài hoặc tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận”. Cách thiết kế quy định này đảm bảo tính linh hoạt, theo đó,nếu người tiêu dùng hài lòng với điều khoản trọng tài, tranh chấp vẫn được giải quyết bằng trọng tài như hai bên đã thảo thuận theo điều kiện giao dich chung. Ngược lại, nếu cảm thấy thiệt thòi bởi thỏa thuận đó, người tiêu dùng cần có cơ hội để xem xét và quyết định, nếu đồng ý với thỏa thuận trọng tài thì xác nhận vào văn bản riêng. Đây là một quy định riêng của Luật Trọng tài nhằm bảo vệ người tiêu dùng, bổ sung các nguyên tắc chung khác trong pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Mặc dù việc ra đời các chế tài bảo vệ người tiêu dùng (trong đó có phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài) ở mức cao nhất là rất cần thiết nhưng cũng phải tính tới việc cân bằng lợi ích giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp.
Trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, bên cạnh những thuận lợi, các doanh nghiệp cũng gặp phải rất nhiều vấn đề phát sinh khi thực hiện các hợp đồng.Bởi vậy mà khi xảy ra tranh chấp, phương thức giải quyết bằng trọng tài là phương thức đạt hiệu quả cao nhất. Bởi giải quyết bằng phương thức này chỉ giải quyết 1 lần, bằng một hội đồng trọng tài do các lựa chọn nên các bên có thể chọn những chuyên gia giỏi nhất, độc lập, vô tư và khách quan nhất, có thể bảo vệ được các bí mật của thương nhân, thủ tục do các bên tự thỏa thuận và thời gian giải quyết tranh chấp ngắn gọn.
Có thể thấy, các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng phương thức trọng tài đảm bảo tính linh hoạt, tính mềm dẻo của pháp luật trong việc bảo vệ người tiêu dùng
2.4.  giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân bằng tòa án
2.4.1 Khái niệm: Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng toàn án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩ vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế.
2.4.2. Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng bằng hòa tòa án tại Việt Nam
a. Giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng bằng thủ tục đơn giản
     Theo khoản 2 Điều 41 Luật BVQLNTD 2010 thì vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục đơn giản quy định trong pháp luật tố tụng dân sự khi có đủ những điều kiện sau đây:
“a) Cá nhân là người tiêu dùng khởi kiện; tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng bị khởi kiện;
b) Vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
c) Giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng.”
       Tuy nhiên, điều đáng tiếc là Luật sửa đổi bổ sung mốt số điều của Bộ luật Dân sự số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 vẫn chưa quy định chi tiết về thủ tục đơn giản đối với các vụ án dân sự về bảo vệ quyền lời người tiêu dùng và do đó chưa có cơ hội để áp dụng trên thực tế.
b. Quyền khởi kiện của tổ chức tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
    Luật BVQLNTD 2010 thừa nhận quyền khởi kiện trực tiếp của các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật BVQLNTD 2010: “  Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là vụ án mà bên khởi kiện là người tiêu dùng hoặc tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của Luật này.”
 Để bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích của người tiêu dùng, Luật  BVQLNTD quy định chi tiết nghĩa vụ thông tin về vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội khởi kiện tại Điều 44 như sau:
“1. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có trách nhiệm thông báo công khai bằng hình thức phù hợp về việc khởi kiện và chịu trách nhiệm về thông tin do mình công bố, bảo đảm không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
2. Nội dung thông báo quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm:
a) Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện;
b) Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện;
c) Nội dung khởi kiện;
d) Thủ tục và thời hạn đăng ký tham gia vụ án.
3. Tòa án có trách nhiệm niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.”
        Tiền bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện vì lợi ích công cộng được thực hiện theo ản án, quyết định của tòa án [5].
c. Nghĩ vụ chứng minh trong các vụ án bảo vệ quyền lời người tiêu dùng
  Điều 41 Luật BVQLNTD 2010 có quy định về nghĩa vụ chứng minh trong các vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như sau:
“1. Người tiêu dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại.”
      Như vậy, theo Khoản 1 Điều 41 Người tiêu dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Điều này là phù hợp bởi theo quy định tại Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự  khi có yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ( người tiêu dùng) hoặc phản đối yêu cầu của người khác đối với mình, thì đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện , yêu cầu phải có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Do đó, trong trường hợp này, người tiêu dùng là người khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền vào nghĩa vụ hợp pháp của mình nên phải có nghĩa vụ chứng mình yêu cầu của mình có căn cứ hợp pháp.
Tuy nhiên, trong các vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trách nhiệm chứng minh lỗi đã được chuyển giao từ người tiêu dùng sang tổ chức, cá nhân kinh doanh cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Đây là điều hoàn toàn hợp lý, bởi trong có vụ án về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thì người tiêu dùng ở thế yếu ,thiếu thông tin, kinh nghiệm cũng như kiến thức chuyên môn cao do đó không thể chứng minh lỗi của của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Do vậy, trách nhiệm chứng minh lỗi được chuyển sang cho bên tổ chức, cá nhân kinh doanh.
2.5. Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân bằng biện pháp hành chính
        Ở Việt Nam tuy không được nhìn nhận chính thức là phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân, nhưng biện pháp hành chính cũng được sự liệu trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cụ thể:
       a. Về nội dung, hình thức yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng: Người tiêu dùng, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng khi có hành vi vi phạm pháp luật của thương nhân gây thiệt hại tới lợi ích nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng. Việc yêu cầu có thể thực hiện bằng văn bản hoặc yêu cầu trực tiếp.
      b. Về thủ tục tiếp nhận yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng: Trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được lập thành văn bản, cán bộ phụ trách tiếp nhận có trách nhiệm xem xét và tiếp nhận yêu cầu. Trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền lời người tiêu dùng được trình bày trực tiếp, cán bộ phụ trách tiếp nhận phải lập thành văn bản và yêu cầu người tiêu dùng hoặc người đại diện của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng kí tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản đó. Trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thiếu nội dung cần thiết, việc bổ sung phải được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền [6].
c. Trình tự giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng: Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hợp lệ. Cơ quan có thểm quyên phải trả lời theo quy định tại Điều 26 Luật BVQLNTD. Trường hợp phức tạp, thời hạn trả lời có thể gia hạn nhưng không đ


[1] Khoản 2 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010                    
[2] Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
[3]  Khoản 1 Điều 8 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
[5] Khoản 1 Điều 46 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
[6]  Điều 21 Nghị định của Chính Phủ số 99/20/NĐ-CP ngày 27/10/2011 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ người tiêu dùng.

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016

Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh

A - MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đều phải cạnh tranh nhau trên nhiều lĩnh vực như: sản phẩm, thị trường, giá cả hàng hóa,…Tuy nhiên, cạnh tranh như thế nào vừa đem lại lợi nhuận, uy tín mà không vi pháp luật cạnh tranh lại là vấn đề được nhiều người tiêu dùng và doanh nghiệp quan tâm. Trong hoạt động khuyến mại, làm thế nào để hàng khuyến mại của doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng mà chất lượng hàng hóa không bị phản ánh,…Để tìm hiểu rõ hơn về hoạt động khuyến mại trong quá trình cạnh tranh, em chọn đề bài số 14: “Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh”.
B – NỘI DUNG
I.Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại
     1.Khái niệm
Tại khoản 1, Điều 88, Luật thương mại 2005 định nghĩa: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”.
Khoản 4, Điều 3, Luật Cạnh tranh quy định: “ Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.
     2.Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh gồm các đặc điểm cụ thể:
Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh do các chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận. Trên thị trường cạnh tranh, để thu lợi nhuận các doanh nghiệp buộc phải thực hiện cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên cùng thị trường liên quan. Vì vậy, trong quá trình cạnh tranh mọi hành vi của doanh nghiệp đều được xem xét dưới nhiều góc độ: đạo đức kinh doanh, vi phạm pháp luật.
Về chủ thể thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường, có thể là doanh nghiệp, cá nhân, nhóm doanh nghiệp hoạt động có tổ chức, cá nhân hành nghề tự do.
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi có tính chất đối lập, đi ngược lại các thông lệ tốt, nguyên tắc đạo đức kinh doanh, đó có thể là những quy tắc xử xự chung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường.
Thứ ba, hành vi cạnh tranh bị kết luận là không lành mạnh và cần phải ngăn chặn khi nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho các đối tượng khác. Vấn đề đặt ra, thiệt hại có phải là dấu hiệu bắt buộc phải có trong quá trình xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không? Trong nhiều trường hợp cơ quan xử lý có thể chấp nhận việc đe dọa gây thiệt hại, hoặc  những thiệt hại không tính toán được cụ thể về cơ hội kinh doanh là đủ để coi một hành vi cạnh tranh là không lành mạnh và bị ngăn cấm.
Đối tượng chịu thiệt hại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: các nhóm doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các doanh nghiệp đối thủ của doanh nghiệp vi phạm. Và người tiêu dùng – những người có nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ được xem xét và trở thành khách hàng của doanh nghiệp vi phạm.
II.Nội dung pháp luật Việt Nam về khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
          Tại Điều 39, Luật cạnh tranh 2004 đã liệt kê các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trong đó có hành vi khuyến mại, bao gồm:
1.Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
2. Xâm phạm bí mật kinh doanh;
3. Ép buộc trong kinh doanh;
4. Gièm pha doanh nghiệp khác;
5. Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
6. Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
7. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
8. Phân biệt đối xử của hiệp hội;
9. Bán hàng đa cấp bất chính;
10. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định.
     1. Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng
         Biểu hiện của hành vi này được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể của chủ thể tiến hành hoạt động khuyến mại như: đưa ra các thông tin sai lệch về giải thưởng, trao giải thưởng không đúng theo nội dung đã cam kết, công bố trong bản thể lệ khuyến mại hoặc trong các chương trình quảng cáo trước khi tiến hành khuyến mại. Các hành vi này có thể được thể hiện như: khuyến mại bốc thăm trúng thưởng nhưng cố ý không cho phiếu trúng thưởng trong quá trình bốc thăm của khách hàng; giải thưởng trúng thưởng có giá trị thấp hơn rất nhiều so với thực tế quảng cáo chương trình khuyến mại. Những hành vi này có tính chất lôi kéo bất chính người tiêu dùng để họ tham gia chương trình khuyến mại. Doanh nghiệp thực hiện chương trình khuyến mại đã lợi dụng lòng tin của khách hàng nhằm tiêu thụ nhiều hàng hóa, dịch vụ để thu được lợi nhuận cao mà không mất nhiều thời gian và tài sản cho chương trình khuyến mại.
            Hành vi vi phạm này đã gây hậu quả nghiêm trọng tới các đối thủ cạnh tranh trong cùng lĩnh vực, ngành nghề liên quan bởi thông qua chương trình khuyến mại đã thu hút một lượng khá đông khách hàng đang sử dụng hàng hóa, dịch vụ của mình. Đặc biệt nó gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích của người tiêu dùng khi đã tin vào khuyến mại và mất nhiều tiền nhưng chất lượng hàng hóa được hưởng lại không như mong đợi. Tuy nhiên, với việc thực hiện hành vi này, doanh nghiệp nếu bị phát hiện sẽ bị mất uy tín, lòng tin của khách hàng vào chính chủ thể thực hiện khuyến mại, có thể doanh nghiệp sẽ đứng trước cảnh lao đao do đã lừa dối bạn hàng của mình.
     2. Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng
Khuyến mại không trung thực là việc đưa thông tin khuyến mại không đúng về hàng hóa, dịch vụ khiến khách hàng nhầm lẫn, tin theo thông tin khuyến mại sai lệch mà mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ. Hành vi này đã gây tác động xấu tới đối thủ cạnh tranh, làm giảm mức tiêu thụ hàng hóa của đối thủ cạnh tranh. Đồng thời, trên một phương diện nào đó còn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của khách hàng nếu thông tin sai lệch làm họ hiểu chất lượng sản phẩm theo hướng có lợi cho mình nhưng trên thực tế chất lượng lại kém hơn rất nhiều.
Khuyến mại không trung thực còn thể hiện ở việc không trung thực về giá của hàng hóa, dịch vụ. Biểu hiện của hành vi này là: nâng giá hàng hóa, dịch vụ lên cao rồi sử dụng chiêu thức khuyến mại hấp dẫn lên đến 50% để thu hút khách hàng. Trước khi khuyến mại, doanh nghiệp tăng giá cao nhằm mục đích thực hiện chương trình khuyến mại giảm giá sốc mà không ảnh hưởng đến doanh thu của mình, còn người tiêu dùng lại lầm tưởng nhận được khuyến mại .
Mặt khác đi kèm với khuyến mại là chất lượng hàng hóa, dịch vụ rất thấp, thực tế hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng tồn kho, hàng đổi không thanh lý được. Với chiêu bài này, doanh nghiệp vừa tiêu thụ được hàng hóa lỗi thời, hàng tồn kho không bán được lại vừa tăng lợi nhuận. Chính hành vi này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh cùng sản phẩm và gây thiệt hại đến lợi ích, túi tiền của người tiêu dùng.
Không chỉ vậy, khuyến mại không trung thực còn thể hiện ở việc đưa thông tin sai lệch, thông tin mập mờ đến khách hàng. Chẳng hạn trong ví dụ này đã thể hiện rõ hành vi của chủ thể tiến hành khuyến mại: “ Từ ngày 15-4 đến hết ngày 17-4 nạp tiền từ 200 000 đồng trở lên sẽ được nhận khuyến mại thêm 170% giá trị thẻ nạp, các mệnh giá khác nhận được 100%”. Với hình thức khuyến mại này rất nhiều khách hàng sử dụng mạng Mobifone đã nạp thẻ 200 000 đồng nhưng kết quả nhiều khách hàng không được khuyến mại. Chương trình khuyến mại này chỉ dành riêng cho các khách hàng thường xuyên và đã sử dụng dịch vụ lâu dài mà không phải tất cả khách hàng đều được hưởng. Như vậy, với việc đưa thông tin không đầy đủ, đã dẫn tới nhiều khách hàng hiểu sai lệch về chương trình khuyến mại gây thiệt hại tới lợi ích của người tiêu dùng.
Với hành vi khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích vật chất của người tiêu dùng.
     3. Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại
Hành vi này được hiểu rằng trong cùng một chương trình khuyến mại, một doanh nghiệp có nhiều trụ sở kinh doanh tại nhiều tỉnh thành khác nhau thì phải thực hiện khuyến mại như nhau. Không được thực hiện khuyến mại tại tỉnh A là 50%, tỉnh B chỉ khuyến mại 30%. Hay tại cùng một địa bàn khuyến mại không được phân biệt khách hàng: khách hàng A được hưởng khuyến mại 50%, khách hàng B cùng sử dụng một hàng hóa, dịch vụ như khách hàng A mà chỉ được hưởng khuyến mại 20%. Nếu thực hiện hành vi khuyến mại như trên doanh nghiệp đã vi phạm khoản 3, Điều 46, Luật Cạnh tranh 2004: “Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại”.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiểu thế nào là “ khách hàng như nhau” thì luật chưa quy định nên đã gây ra nhiều tranh cãi, khó khăn trong việc áp dụng. Khách hàng như nhau trong trường hợp này có thể hiểu là những người cùng sử dụng sản phẩm, dịch vụ giống nhau trên cùng một địa bàn kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành khuyến mại. Tuy nhiên, việc pháp luật đưa ra quy định trên có phần chưa hợp lí bởi lẽ: tại nhiều địa phương, tỉnh thành có mức sống, điều kiện kinh tế khác nhau, việc chủ thể khuyến mại áp dụng mức khuyến mại khác nhau là hợp lí. Trong nhiều trường hợp sẽ tạo ra lợi thế kích cầu tốt hơn, do thành phố có mức sống, điều kiện kinh tế phát triển hơn nông thôn nên khả năng người tiêu dùng tìm đến nhà cung cấp nhiều hơn nếu có thêm khuyến mại. Ngược lại, ở vùng nông thôn kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, mức sống thấp khiến cho nhu cầu tiêu dùng có phần hạn chế hơn so với thành thị nên mức khuyến mại có thể thấp hơn so với thành thị. Như vậy, không phải khi nào áp dụng một mức khuyến mại cho tất cả các khu vực trong cùng một chương trình khuyến mại cũng là tốt nhất mà cần có sự phân tích thị trường, đưa ra phương án, chiến lược kinh doanh phù hợp nhất nhằm đem lại lợi nhuận và khả năng kích cầu cao hơn. Do đó, nhìn dưới góc độ kinh tế, hành vi này là phù hợp với thực tế kinh doanh trên thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt hiện nay.
     4. Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình
Điều kiện bắt buộc của hành vi này là hành khách phải mang hàng hóa đang sử dụng của một chủ thể khác để đổi lấy hàng hóa của mình. Thông qua hành vi này, doanh nghiệp tiến hành khuyến mại có thể nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường do hàng hóa đã có khả năng tác động rất lớn đến tâm lý người tiêu dùng, khiến hàng hóa của doanh nghiệp nhanh chóng có mặt, chiếm lĩnh được thị trường.
Tuy nhiên, với hành vi này doanh nghiệp khuyến mại đã trực tiếp gây rối, cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, làm phá vỡ sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, phá vỡ thói quen tiêu dùng từ trước của người tiêu dùng và quyền tự do lựa chọn hàng hóa của họ.
     5. Các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật có quy định cấm
Các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật có quy định. Theo quy định này, ngoài các hành vi khuyến mại không được quy định tại Luật Cạnh tranh 2004 cũng bị coi là cạnh tranh không lành mạnh.
*Mức xử phạt đối với hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 34 Nghị định 71/2014
1. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng;
b) Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng;
c) Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại;
d) Tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình.
 2. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp quy mô tổ chức khuyến mại thuộc phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.
3. Ngoài việc bị phạt tiền quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp thực hiện các hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Khoản 4 Điều 28 của Nghị định này.
III.Thực tiễn thực hiện pháp luật về hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
     1.Thực tiễn pháp luật về hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Nhìn chung, các hành vi vi phạm pháp luật về hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Điều 46, Luật cạnh tranh khá rõ ràng, được áp dụng dễ dàng trong thực tế, tạo điều kiện giúp các cơ quan quản lý cạnh tranh thuận tiện trong việc áp dụng các quy định pháp luật trong quá trình thực thi.
Tuy nhiên, Tại khoản 3, Điều 46, luật cạnh tranh quy định: Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại. Pháp luật không quy định như thế nào là “ khách hàng như nhau”. Đó có thể là khách hàng trong cùng một khu vực địa lý, khách hàng có cùng một giao dịch với chủ thể khuyến mại. Với việc đưa ra quy định nhưng không có khái niệm hướng dẫn, giải thích khiến chủ thể thực hiện khó có thể áp dụng đúng quy định pháp luật. “ Quy định tại Khoản 3 điều 46 Luật cạnh tranh đã tạo nên cấu thành phức tạp và rất khó áp dụng trong thực tiễn. Với cách quy định hiện nay, doanh nghiệp rất dễ lách luật để thực hiện những hành vi có mục đích tương tự mà vẫn không thể quy kết là vi phạm luật cạnh tranh. Theo đó, doanh nghiệp chỉ cần phân chia chương trình khuyến mại thành hai chương trình nhỏ tổ chức ở hai địa bàn khác nhau với cùng một thời gian, cùng một điều kiện áp dụng cho khách hàng… nhưng doanh nghiệp tiến hành hai thủ tục đăng ký khuyến mại khác nhau thì sẽ không vi phạm Luật cạnh tranh vì không thỏa mãn điều kiện vi phạm là trong cùng một chương trình khuyến mại”.
Quy định về địa bàn khác nhau: quy định này là không hợp lý bởi lẽ mỗi vùng, miền, khu vực địa lý khác nhau có điều kiện kinh tế, mức sống khác nhau. Từ đó, việc áp dụng các chương trình khuyến mại khác nhau trong nhiều trường hợp đó lại là giải pháp hữu hiệu nhằm kích cầu, đồng thời phát huy tối đa chương trình khuyến mại. Căn cứ vào điều kiện kinh tế, mức sống của dân cư tại các vùng miền khác nhau, doanh nghiệp đưa ra các chương trình khuyến mại phù hợp nhất đảm bảo đồng thời lợi ích của khách hàng tham gia chương trình và đảm bảo tiết kiệm chi phí cho các chương trình khuyến mại. Do đó, tùy từng trường hợp doanh nghiệp có toàn quyền định đoạt về việc phân phối và mức độ phân phối cho khách hàng nên không thể quy định đó là bất chính.
     2.Thực tiễn thực hiện pháp luật về hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
 “Sau 5 năm thực hiện các quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh, Cục Quản lí cạnh tranh đã tiến hành điều tra 61 vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh (01 vụ trong năm 2006, 05 vụ trong năm 2007, 13 vụ trong năm 2008, 14 vụ trong năm 2009 và 28 vụ trong năm 2010). Trong đó có 46/63 vụ việc do Cục Quản lý cạnh tranh khởi xướng điều tra và 15/61 vụ việc điều tra dựa trên căn cứ đơn khiếu nại từ các doanh nghiệp,cụ thể như sau:
- 28 vụ việc liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
- 17 vụ việc liên quan đến hành vi bán hàng đa cấp bất chính;
- 06 vụ việc liên quan đến hành vi dèm pha nói xấu doanh nghiệp khác;
- 05 vụ việc liên quan đến hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
- 04 vụ việc liên quan đến hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
- 01 vụ việc liên quan đến hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác.
Bên cạnh các vụ việc được xử lý thông qua tố tụng cạnh tranh, Cục còn tiếp nhận, xem xét và cho ý kiến hướng dẫn, tư vấn về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan thông qua các thủ tục hành chính thông thường. Cục cũng tiến hành tham vấn tiền tố tụng đối với 62 vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh không lành mạnh, bao gồm các vụ việc Cục khởi xướng tham vấn và các vụ việc phát sinh từ đơn khiếu nại của các doanh nghiệp”.
Qua số liệu thực tế thực hiện pháp luật cạnh tranh nói chung và hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong khuyến mại nói riêng cho thấy pháp luật Cạnh tranh đã phần nào giải quyết được yêu cầu đặt ra của pháp luật và thực tiễn. Thực tế các vụ việc về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong khuyến mại xuất hiện rất ít chỉ chiếm khoảng 8% trong tổng số các vụ vi phạm luật cạnh tranh trong suốt 5 năm thực hiện, thi hành Luật Cạnh tranh.
Thông qua số liệu trên một mặt cho thấy, các chủ thể tiến hành khuyến mại đã có ý thức thực hiện đúng quy định của pháp luật nói chung và Luật Cạnh tranh nói riêng trong quá trình xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc tiến hành chương trình khuyến mại có sự vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng chưa được phát hiện và xử lý kịp thời.
Trên cơ sở tổng hợp các vụ việc vi phạm, ta có thể thấy mức độ ảnh hưởng của hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh đối với các doanh nghiệp trong một số lĩnh vực:
Lĩnh vực
Phân bón
Ngân hàng
Viễn thông
Xâm phạm bí mật
50
25
1
Ép buộc trong kinh doanh
17
5
0
Rèm pha doanh nghiệp khác
8
12
0
Gây dối hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác
8
12
1
Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
8
5
0
Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
17
35
21
Phân biệt đối xử của hiệp hội
33
45
2
Bán hàng đa cấp bất chính
0
10
0
Nguồn: Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương 2010: “ Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế, tr.220, 269, 393
Qua số liệu thống kê trên, ta thấy mức độ ảnh hưởng của hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh đối với các doanh nghiệp chiếm tỉ lệ khá cao, nhất là trong lĩnh vực ngân hàng, tiếp đó là phân bón và viễn thông. Như vậy, hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh có mức độ ảnh hưởng rất cao tới hoạt động của các đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành nghề kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng tới quyền lợi người tiêu dùng và không ai khác trong một giới hạn nhất định nếu bị phát hiện thì uy tín, danh tiếng của chủ thể thực hiện khuyến mại cũng bị suy giảm.
Điển hình nhất trong hành vi vi phạm của các chủ thể trong việc thực hiện hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh phải kể tới các chủ thể thông qua ví dụ:
*Ví dụ về: Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng
             Vi phạm của Công ty điện tử LG được thực hiện cụ thể: “ Ngày 13/03/2006 tại khách sạn New World diễn ra sự kiện bốc thăm trúng thưởng. Giải thưởng trong chương trình này gồm: xe ô tô Toyota Innova trị giá gần 30.000 USD (giải nhất), xe tải Hyundai 1,25 tấn (giải nhì), xe máy Honda Dylan (giải ba) với tổng giá trị hơn 2 tỷ đồng diễn ra tại nhiều tỉnh thành từ miền Trung trở vào.
Chương trình khuyến mại chia làm ba thùng bốc thăm, tuy nhiên trong ba thùng phiếu đang được rút thăm không có lá phiếu từ 200 trở lên trong khi khách hàng chủ yếu sở hữu lá phiếu từ 200 trở lên. Ngoài ra, trong chương trình này còn xuất hiện hiện tượng bất thường đó là: một công ty tham gia có đến 79 phiếu trên tổng số 168 phiếu hợp lệ.
            Theo quy định của chương trình khuyến mại này, để có được một phiếu thì phải mua 100 bộ máy lạnh LG, 300 bộ thì được 4 phiếu. Điều đó có nghĩa công ty kia phải mua đến hơn 5.900 bộ máy lạnh mới có được 79 phiếu. Trước sự thắc mắc của khách hàng, LG trả lời là: công ty này đã mua đúng số lượng máy (hơn 5.900 bộ). Và người mua có thể đặt cọc 8% trị giá đơn hàng thì được tính là đã mua và được phát phiếu. Chương trình khuyến mại của công ty LG đã gian dối về giải thưởng, lợi dụng lợi ích của khách hàng để tiêu thụ hàng hóa”.
            Hành vi trên của công ty điện tử LG đã vi phạm khoản 1, Điều 46, Luật Cạnh tranh 2004. Công ty LG đã gian dối trong việc trao thưởng, cụ thể: trong thùng bốc thăm giải thưởng không tồn lại những lá phiếu của khách hàng. Hành vi này được coi là một hình thức cạnh tranh không lành mạnh nhằm lợi dụng lợi ích, lòng tin của khách hàng để tiến hành xúc tiến thương mại, thu lợi nhuận lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới các đối thủ cạnh tranh, môi trường kinh doanh và chính những người tiêu dùng tham gia chương trình khuyến mại.
*Ví dụ về: Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình
“Ngày 18/6/2009, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) gửi công văn khẩn tới Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) và Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông tố cáo hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh của Công ty TNHH một thành viên Thông tin di động (MobiFone).
 Công văn nêu rõ: trong thời gian qua tại một số tỉnh như: Đồng Tháp, Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ, An Giang, Cà Mau, Kiên Giang… xuất hiện các áp phích in màu, quảng cáo giá cước dịch vụ mới của Công ty Thông tin di động VMS (Mobifone).
Viettel phát hiện một số phương thức khuyến mại của MobiFone nhằm lôi kéo khách hàng của Viettel Telecom chuyển sang sử dụng dịch vụ của Mobifone. Tại Hải Dương, MobiFone thực hiện bán hàng lưu động trên địa bàn xã, thôn với chương trình “Đổi sim mạng khác lấy sim MobiFone có 230.000 đồng trong tài khoản”. Chương trình này cho phép khách hàng có thẻ SIM của mạng di động khác còn tài khoản dưới 15.000 đồng và còn ngày sử dụng, có thể đổi lấy miễn phí một thẻ SIM MobiZone của MobiFone đã có sẵn 50.000 đồng trong tài khoản. Trong vòng 12 tháng, MobiFone sẽ tặng cho khách hàng mỗi tháng 15.000 đồng.
Viettel Telecom cho rằng việc MobiFone khuyến mại qua hình thức tặng thẻ SIM MobiZone cho khách hàng nhưng lại kèm theo điều kiện trao đổi là khách hàng chuyển thẻ SIM của doanh nghiệp viễn thông khác đồng nghĩa với việc khách hàng chỉ được hưởng khuyến mại của MobiFone khi từ bỏ việc sử dụng dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp khác để chuyển sang sử dụng dịch vụ của hãng. Hành vi này ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động cạnh tranh trên thị trường viễn thông và vi phạm Luật Cạnh tranh.
Đại diện MobiFone đã thừa nhận là có một số chi nhánh của Mobifone đã triển khai chương trình đổi sim theo hình thức khuyến mại từ ngày 1/6/2009 đến ngày 10/6/2009. Tuy nhiên, Mobifone đã chính thức dừng triển khai chương trình khuyến mại này từ ngày 11/6/2009, được quy định tại văn bản số 2360/VMS-KH-BH ngày 11/6/2009 của Công ty VMS.
Ví dụ trên cho thấy hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Mobifone trên thị trường viễn thông, chính hành vi này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích của các nhà kinh doanh viễn thông khác, mặt khác cũng ảnh hưởng tới thói quen tiêu dùng của khách hàng.
Hành vi vi phạm trên, Mobifone đã vi phạm khoản 4, Điều 46, Luật Cạnh tranh 2004: “ Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình”.
     3.Nguyên nhân
Thực trạng trên diễn ra là do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do hệ thống pháp luật nước ta quy định không đầy đủ, không đồng bộ, thiếu thống nhất, chưa có những hướng dẫn chi tiết về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh mà mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Điều 46, Luật Cạnh tranh 2006, từ đó dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau. Trong một số trường hợp, nhiều chủ thể đã lợi dụng kẽ hở này để thực hiện hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh như: đối với quy định tại khoản 3, Điều 46, Luật Cạnh tranh: chủ thể thực hiện khuyến mại thay vì đăng kí một chương trình khuyến mại thì nay để áp dụng nhiều mức khuyến mại khác nhau trên mỗi địa bàn hoạt động, chủ thể sẽ tiến hành đăng kí nhiều chương trình khuyến mại. Tương ứng với một địa bàn hoạt động là một chương trình khuyến mại.
Thứ hai, nguồn lực thực thi pháp luật cạnh tranh ở nước ta còn rất thấp. Theo quy định của Điều 52 - Luật cạnh tranh Việt Nam, điều tra viên phải là những người có thời gian công tác thực tế ít nhất là 5 năm thuộc một trong các lĩnh vực luật, kinh tế và tài chính. “ Trong khi thực tế các cán bộ, nhân viên của Cục Quản lý cạnh tranh hiện nay đến hơn 80% là những cán bộ mới ra trường hoặc có ít hơn 5 năm kinh nghiệm. Vì vậy, căn cứ các tiêu chuẩn nói trên, tính đến nay, Bộ trưởng Bộ Công Thương mới chỉ bổ nhiệm gần 20 điều tra viên. Trong khi đó, môi trường cạnh tranh ngày càng gắt gao mang tính sống còn với doanh nghiệp, tâm lý chạy theo lợi nhuận, lợi dụng sự thiếu vắng một khung pháp lý hoàn chỉnh điều chỉnh các hoạt động kinh tế, cũng như khe hở của các quy định pháp luật hiện hành, v.v. đã làm xuất hiện trên thị trường nhiều hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh, lợi dụng vị thế độc quyền gây khó khăn, làm tổn hại đến nền kinh tế”.
Thứ ba, do nhận thức, sự thiếu  hiểu biết của chủ thể tiến hành hoạt động khuyến mại và của người tiêu dùng. Nhiều trường hợp doanh nghiệp tiến hành khuyến mại cũng không biết việc khuyến mại của mình là hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh. Bên cạnh đó, người tiêu dùng thì thờ ơ trước hành vi vi phạm của doanh nghiệp, với quan niệm hành  vi đó không gây ảnh hưởng nghiêm trọng nên lặng im cho qua. Nhưng thực tế hành vi khuyến mại đó không chỉ gây thiệt hại về lợi ích cho chính khách hàng đó mà còn ảnh hưởng tới nhiều người tiêu dùng khác và cùng với đó là nhiều doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh cũng bị ảnh hưởng làm cho môi trường cạnh tranh trở nên thiếu lành mạnh.
Thứ tư, mức xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh trong hoạt động khuyến mại còn thấp, chưa đủ răn đe, nhiều chủ thể biết hành vi của mình là vi phạm nhưng vẫn thực hiện hành vi đó do việc thu được lợi nhuận cao hơn so với việc nộp phạt.
     4.Giải pháp hoàn thiện pháp luật
-Hành vi khuyến mại khác nhau cho các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại không mang bản chất của một hành vi cạnh tranh không lành mạnh do đó cần đưa quy định này về hành vi cạnh tranh không lành mạnh ra khỏi Luật cạnh tranh.
-Tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các chính sách liên quan đến cạnh tranh để doanh nghiệp, người tiêu dùng kiểm soát được hành vi của mình tạo điều kiện xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh.
-Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ pháp luật cạnh tranh cho đội ngũ cán bộ, điều tra viên góp phần làm tốt hơn công tác điều tra, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm.
C – KẾT LUẬN
Thông qua việc phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh ta thấy tình hình cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong hoạt động khuyến mại hiện nay còn nhiều bất cập. Các doanh nghiệp đã bỏ qua pháp luật, bất chấp vi phạm pháp luật để cạnh tranh không lành mạnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng. Vì vậy, pháp luật cần có những quy đinh cụ thể, có sức răn đe hơn để hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh góp phần xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn.