Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT ĐẦU TƯ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT ĐẦU TƯ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Tìm hiểu pháp luật về các biện pháp đảm bảo đầu tư ở Việt Nam


Xuất phát từ đòi hỏi gắt gao của quá trình toàn cầu hóa, cũng như mục đích phát triển kinh tế xã hội, một trong các chủ trương lớn của Nhà nước trong thời đại mới chính là tận dụng và phát huy tối đa nguồn vốn đầu tư của các chủ thể trong và ngoài nước có nhu cầu đầu tư kinh doanh. Chính vì lẽ đó mà bên cạnh các biện pháp khuyến khích đầu tư nhà nước ta đã đưa ra các biện pháp đảm bảo đầu tư rộng mở. Các biện pháp này đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc gia và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia như một bằng chứng pháp lý xác thực, tạo nên sự khuyến khích cũng như an toàn cho các nhà đầu tư.
Các biện pháp đảm bảo đầu tư là những biện pháp được thể hiện trong các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đánh của các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư với mục đích kinh doanh. Các biện pháp đảm bảo đầu tư chính là những cam kết từ phía nhà nước tiếp nhận đầu tư trước một số quyền lợi cụ thể của nhà đầu tư.
Theo tinh thần của pháp luật về đầu tư ở Việt Nam, các biện pháp đảm bảo đầu tư được hiểu cụ thể là các cam kết của Nhà nước Việt Nam về việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trong quá trình tiến hành dự án đầu tư tại Việt Nam. Các biện pháp đảm bảo đầu tư bao gồm: Bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của nhà đầu tư; bảo đảm đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động đầu tư; bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp khác của nhà đầu tư ra nước ngoài; bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi có những thay đổi bất thường của chính sách, pháp luật và một số các biện pháp bảo đảm đầu tư khác.
Được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc gia như: Hiến pháp, Bộ luật dân sự, Luật khuyến khích và đầu tư trong nước; Luật đầu tư 2005; Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam… Và trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia: Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN… các biện pháp đảm bảo đầu tư bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Việc quy định về chế định này trong hệ thống pháp luật về đảm bảo đầu tư của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế. Với nội dung chính là lời cam kết thỏa đáng đối với nhà đầu tư về việc không quốc hữu hóa, không tịch thu vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư bằng các biện pháp hành chính, Chính phủ đã tạo lập được lòng tin cho nhà đầu tư về quyền sở hữu chính đáng của họ đối với khối tài sản đem đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Nhà nước chỉ trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư trong trường hợp thực sự cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng hay vì lợi ích quốc gia. Khi đó, nhà đầu tư nhận được sự thanh toán hoặc đền bù theo giá thị trường tại thời điểm công bố việc trưng mua, trưng dụng, dựa trên tinh thần đảm bảo lợi ích hợp pháp và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.
Biện pháp này có hiệu lực kể từ khi các nhà đầu tư triển khai dự án đầu tư mà không cần phải thông qua thêm bất cứ thủ tục hành chính nào, được áp dụng đối với tất cả các nhà đầu tư  có hoạt động đầu tư theo pháp luật đầu tư của Việt Nam, không phân biệt đầu tư trong nước hay đầu tư nước ngoài.
Quốc gia càng phát triển và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thì vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ càng được quan tâm sâu sắc. Do vậy, việc ghi nhân biện pháp bảo hộ sở hữu trí tuế  là một trong những chế định rất cần thiết và quan trọng, tạ môi trường đầu tư sạch, khuyến khích đầu tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài.
Đây là một trong các nội dung quan trọng mà Việt Nam phải thực hiện trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, thể hiện thiện chí mở cửa của nước ta đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Bao gồm:
- Mở cửa thị trường đầu tư phù hợp với lộ trình cam kết
- Không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện một số yêu cầu nhất định như điều kiện đầu tư, đạt tỷ lệ nội địa hóa, xuất khẩu hàng hóa hoặc xuất khẩu dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định…
Việc nội luật hóa các cam kết này trong các văn bản pháp lý có giá trị cao nhất trong lĩnh vực đầu tư là yêu cầu quan trọng và thiết thực, tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để có thể đem triển khai trong thực tiễn.
Chế định này hướng tới một bộ phận riêng, đó là các nhà đầu tư ngoài nước. Đây là chế định phù hợp với thông lệ quốc tế, liên quan mật thiết tới quyền lợi thiết thực của các nhà đầu tư nước ngoài, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của họ khi đầu tư vào Việt Nam.
Nội dung là sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước Việt Nam, nhà đầu tư được chuyển ra nước ngoài khoản thu hợp pháp. Việc chuyển thu nhập ra nước ngoài được thực hiện bằng tiền tự do chyển đổi theo tỷ giá giao dịch ngân hàng thương mại do nhà đầu tư lựa chọn.
Đây là một chế định thể hiện sự mềm mỏng và ưu đãi của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, cho dù thay đổi chính sách và pháp luật, thì họ cũng luôn được hưởng các quyền chính đáng theo hướng có lợi nhất cho mình, cụ thể là:
- Nếu chính sách mới, các quy phạm pháp luật mới ban hành và đi vào áp dụng mà ghi nhận các quyền lợi và ưu đãi cao hơn so với quyền lợi ưu đãi  mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì họ sẽ được hưởng các quyền lợi và ưu đãi theo quy định mới kể từ ngày chính sách, pháp luật đó đi vào thực hiện.
- Ngược lại, nếu pháp luật, chính sách mới ban hành mà ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp nhà đầu tư đã được hưởng trước khi các quy định đó có hiệu lực thì họ sẽ được hưởng các ưu đãi đã được áp dụng tại thời điểm cấp phép hay được lựa chọn giải quyết bằng một số biện pháp khác. Như vậy, về bản chất, chế định này ghi nhận nguyên tắc không hồi tố trong trường hợp pháp luật thay đổi làm thiệt hại đến quyền lợi của nhà đầu tư.
Như vậy, trong mọi trường hợp có thể thay đổi về chính sách hoặc quy định pháp luật từ phía Nhà nước thì quyền lợi tối đa của các nhà đầu tư đều được đảm bảo. Về phần mình, Nhà nước nhận về một số bất lợi và giành cho các nhà đầu tư quyền chủ động trong lựa chọn các giải quyết sao cho thỏa đáng với nguyện vọng và quyền lợi hợp pháp của họ. Điều này thể hiện rõ nét thiện chí và mong muốn của nhà nước Việt Nam đối với việc khuyến khích và thu hút vốn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài.
Đây là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Với đa số các quốc gia, nhà đầu tư được lựa chọn và thỏa thuận cơ chế giải quyết thích hợp, bao gồm: Thương lượng; Hòa giải; Trọng tài; Tòa án
Bên cạnh đó, việc áp dụng luật nước ngoài để giải quyết tranh chấp đầu tư có yếu nước ngoài cũng được thừa nhận rộng rãi.
Pháp luật Việt Nam dựa trên nguyên tắc tôn trọng ý chí và sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên đã đưa ra sự đảm bảo cần thiết cho sự lựa chọn cơ chế giải quyết của các bên khi xảy ra tranh chấp trong quá trình đầu tư.
Theo đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng được kí giữa đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nước ngoài hoặc tromg điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thì tranh chấp giữa các nhà đầu tư với cơ quan nhà nước Việt Nam sẽ được giải quyết tại cơ quan trọng tài hoặc Tòa án Việt Nam. Nếu các bên đã thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì Tòa án sẽ không thụ lý các tranh chấp đó. Ngoài ra tranh chấp về đầu tư có yếu tố nước ngoài, thì sự lựa chọn cơ quan tranh chấp thường được mở rộng hơn với các cơ quan: Tòa án Việt Nam, trọng tài Việt Nam, trọng tài quốc tế, trong tài nước ngoài hoặc trọng tài do các bên đề cử lập ra.
Việt Nam ghi nhận biện pháp đảm bảo đầu tư này như một nguyên tắc cơ bản và hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư về tính an tòa và ổn định  của ngay cả khi quá trình hoạt động kinh doanh gặp những sự cố khách quan hay chủ quan, đã lường trước hay không lường trước được.
Ở Việt Nam, đây là một chế định khá mới mẻ được quy định trong Luật đầu tư 2005, theo đó, trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đều được áp dụng một mức thống nhất về giá, phí, lệ phí đối với tất cả hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước kiểm soát. Thực tiễn áp dụng trong hơn 2 năm trở lại đây đã cho thấy tín hiệu rõ rệt của biện pháp này, vừa tạo sự hấp dẫn cho môi trường đầu tư tại Việt Nam, vừa phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ.
Có thể nói những biện pháp đảm bảo đầu tư là những quy định tối thiểu, là nền tảng, cơ sở mà dựa trên đó các nhà đầu tư có thể lựa chọn hình thức, lĩnh vực cũng như địa bàn đầu tư. Bằng các biện pháp cụ thể nêu trên, pháp luật đầu tư đã tạo ra những đảm bảo cần thiết về mặt pháp lý để các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể yên tâm trong quá trình thành lập và triển khai  dự án. Các biện pháp này được xây dựng trên tiêu chí: tính đơn giản minh bạch trong các quy định và cách thức áp dụng chúng trong thực tế; tính công bằng trong tương quan so sánh với các nhà đầu tư khác và tính hiệu quả đối với việc giảm bớt chi phí về tài chính và thời gian của các nhà đầu tư.
Hơn nữa, quyền lợi của các nhà đầu tư được bảo vệ một cách tối đa và nhất quán trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Thật vậy, các biện pháp đảm bảo đầu tư thường bao gồm các biện pháp đảm bảo về tài sản và vốn hợp pháp của các nhà đầu tư, các biện pháp đảm bảo công bằng cho các nhà đầu tư, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư khi tiến hành thực hiện dự án đầu tư của mình.
Chính từ những mục đích đó mà có thể nhận thấy, việc ghi nhận các biện pháp đảm bảo đầu tư trong các văn bản pháp lý thừa nhận trên thực tiễn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả đầu tư. Bởi khi có môi trường đầu tư thông thoáng và giàu tiềm năng thì các biện pháp đảm bảo lại càng trở nên thiết thực. Mỗi một nhà kinh doanh- một nhà đầu tư cần một lời hứa hẹn về sự an toàn cho vốn và tài sản của họ thì họ mới xây dựng nên những dự án đầu tư có quy mô phù hợp và chất lượng đảm bảo. Đồng thời, những biện pháp đảm bảo này còn xây dựng niềm tin cho các nhà đầu tư và tạo ra một một cơ chế thủ tục hành chính thông thoáng, giúp cho các dự án đầu tư diễn ra minh bạch, hiệu quả, công bằng.
Như vậy, các biện pháp đảm bảo đầu tư là những bằng chứng rõ ràng và thuyết phục nhất cho sự an toàn cũng như sự ổn định của nguồn vốn đầu tư, góp phần tăng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, là công cụ phản án rõ nét nhất thái độ của Nhà nước đối với các nhà đầu tư và dự án của họ đồng thời nhằm vào một mục đích cao hơn đó là thúc đẩy sự phát triển chung vào nền kinh tế xã hội của đất nước.
Những biện pháp đảm bảo đầu tư nói trên theo thời gian sẽ còn được cải thiện hơn nữa trước những đòi hỏi chung của quá trình hội nhập. Hiện tại, với 7 biện pháp cụ thể nêu trên, Chính phủ Việt nam thực sự đã nổ lực và cố gắng trong việc tạo ra một hàng lang pháp lý vững chắc cho các hoạt động đầu tư, tạo thế mạnh cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó nó còn khẳng định một giá trị thực tiễn, nâng cao uy tín của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế, hội nhập sâu vào sự phát triển của kinh tế toàn cầu, tạo môi trường đầu tư sôi động và lành mạnh cho đất nước.
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Luật đầu tư năm 2005
2.    Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình luật đầu tư, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007.
3.    Đào Vũ Khánh Linh, Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu pháp luật về các biện pháp đảm bảo đầu tư ở Việt Nam”. Hà Nội, 2007.
4.    Hoàng Thị Phượng, Khóa luận tốt nghiệp “Các biện pháp đảm bảo đầu tư theo luật đầu tư (2005)”. Hà Nội, 2008.

5.    Vũ Lê Quỳnh Ngân, Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật đảm bảo đầu tư ở Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn ”. Hà Nội, 2009.

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016

CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO ĐẦU TƯ

NỘI DUNG

Những quy định về bảo đảm đầu tư theo Luật Đầu tư hiện hành được các nhà đầu tư đánh giá về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như các cam kết quốc tế về đầu tư của Việt Nam tại thời điểm ban hành Luật Đầu tư. Tuy nhiên, để tiếp tục hoàn thiện chính sách bảo đảm đầu tư phù hợp với cam kết quốc tế về bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã thỏa thuận trong thời gian qua. Các biện pháp đầu tư đã có nhiều biện pháp bảo đảm cam kết của nhà nước trong việc đối xử không phân biệt giữa các nhà đầu tư nước ngoài (nguyên tắc đối xử tối huệ quốc); Bổ sung nguyên tắc không hồi tố về điều kiện đầu tư trong trường hợp pháp luật, chính sách thay đổi làm ảnh hưởng bất lợi đến điều kiện đầu tư đã được quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; Ngoài ra, để phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như cam kết của Việt Nam theo các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Luật ĐT 2014 bổ sung về giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư. Theo đó, việc giải quyết tranh chấp giữa cơ quan nhà nước và nhà đầu tư thông qua trọng tài chỉ được thực hiện trong trường hợp có thỏa thuận trọng tài theo hợp đồng giữa các bên tranh chấp hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.[1]

I. CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO ĐẦU TƯ

Nói đến quyền sở hữu tài sản điều này đã quy định trong Hiến Pháp 2013, Hiến pháp ghi nhận vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân một cách tương xứng với sự đóng góp to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời khẳng định rõ ràng và nhất quán về tài sản hợp pháp để đầu tư, sản xuất kinh doanh được nhà nước bảo vệ và không bị quốc hóa, cụ thể tại Khoản 3 Điều 51 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa”.
Trong pháp luật đầu tư, bảo đảm quyền sở hữu tài sản là một biện pháp đảm bảo đầu tư mà nhà nước thực hiện đối với nhà đầu tư quy định tại Điều 9 Luật Đầu tư 2014: “1.  Tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. 2.Trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu tư được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Biện pháp bảo đảm đầu tư này được áp dụng đối với tất cả các nhà đầu tư có hoạt động đầu tư theo pháp luật đầu tư của Việt Nam, không phân biệt mức độ bảo hiểm nhiều hay ít, dự trên bất kì một tiêu chí nào. Hơn nữa, biện pháp này bắt đầu có hiệu lực kể từ khi các nhà đầu tư bắt đầu triển khai dự án đầu tư mà không cần phải thông qua thêm bất cứ thủ tục hành chính nào.
Đây là cam kết của nhà nước trong việc đối xử không phân biệt giữa các nhà đầu tư nước ngoài (nguyên tắc đối xử tối huệ quốc) phù hợp với điều kiện và lộ trình quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Khoản 1 Điều 7). Quy định này nhằm cụ thể hóa cam kết của Việt Nam về đối xử tối huệ quốc theo các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư. 
 Luật Đầu tư 2014 việc đảm bảo hoạt động đầu tư kinh doanh quy định cụ thể tại Điều 10 Luật Đầu tư 2014, Nhà nước không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện các yêu cầu như ưu tiên sử dụng hàng hóa, xuất khẩu đạt tỷ lệ nhất định, tỷ lệ nội địa hóa trong nước, …. Xóa bỏ quy định trên cũng là một những nguyên tắc quan trọng trong thương mại quốc tế khi mà Việt Nam là thành viên hay muốn là thành viên.
Nguyên tắc này góp phần không nhỏ trong việc bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài đối với những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Bằng sự đảm bảo này, nhà đầu tư nước ngoài có thể tự do trong việc dịch chuyển tài sản hợp pháp của mình mà không gặp những trở ngại tại quốc gia tiếp nhận đầu tư. Được thỏa mãn nhu cầu tất yếu khi họ tiến hành hoạt động đầu tư: đó là chuyển số lợi nhuận mà họ thu được về đất nước của họ.
Theo luật Việt Nam, khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, nhà đầu tư không phải nộp thuế. Quy định này nhằm tránh việc đánh thuế hai lần, vì lợi nhuận mà nhà đầu tư được chuyển là lợi nhuận sau thuế tức là nhà đầu tư đã phải nộp, thuế thu nhập trước khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Trách nhiệm nộp thuế trong trường hợp này không thuộc về nhà đầu tư mà thuộc về doanh nghiệp nơi nhà đầu tư tham gia đầu tư vốn. Nhà đầu tư nước ngoài có thể được đảm bảo một môi trường đầu tư minh bạch, thông thoáng, thuận lợi cho việc đầu tư, được đảm bảo về quyền sở hữu tài sản hợp pháp.
Các biện pháp đảm bảo đầu tư nói chung và đảm bảo việc nhà đầu tư nước ngoài được chuyển tiền ra nước ngoài đã góp phần không nhỏ trong việc làm minh bạch hóa chính sách, hoàn thiện môi trường đầu tư. Cụ thể hơn, khi tài sản, lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ hoạt động đầu tư được đảm bảo quyền sở hữu, được tự do dịch chuyển về nước sở tại, dẫn tới nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn trong việc đầu tư vào quốc gia đó. Nhờ vậy, tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc gia tiếp nhận đầu tư phát triển.
Hòan thiện hệ thống pháp luật: Trong trường hợp Việt Nam, việc quy định nguyên tắc này giúp đảm bảo tính hợp lý của pháp luật Việt Nam trong quy định về việc chống đánh thuế hai lần đối với lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có những điểm hạn chế nhất định, việc tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tự do chuyển tiền ra khỏi biên giới, lãnh thổ quốc gia, nếu không có sự kiểm soát, nguyên tắc này có thể bị lạm dụng, để chuyển những khoản tiền không hợp pháp ra nước ngoài, vượt qua sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước dưới hình thức lợi nhuận hoạt động đầu tư. Điều đó xấu đòi hỏi cần có cơ chế quản lý chặt chẽ, xác minh rõ ràng các khoản tiền mà nhà đầu tư chuyển ra nước ngoài.
Thủ tướng Chính phủ quyết định việc bảo lãnh nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc doanh nghiệp nhà nước tham gia thực hiện dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và những dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng quan trọng khác. Điều 12 Luật Đầu tư 2014
Mới đây Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 34/2015/QĐ-TTg ban hành Danh mục các chương trình, dự án ưu tiên được xem xét cấp bảo lãnh Chính phủ[2] Đây là biện pháp đảm bảo đầu tư mới được quy định trong luật Đầu tư 2014.
Xuất phát từ thực tiễn pháp luật Việt Nam, hệ thống pháp luật có tuổi thọ thấp, chính sách quy định luôn luôn thay đổi trong khi đó nhu cầu của nhà Đầu tư muốn kinh doanh thực hiện dự án lâu dài. Mỗi dự án đầu tư có thể kéo dài 10-30 năm trong khi đó tuổi thọ các văn bản pháp luật và chính sách ưu đãi của PLVN chỉ 5-10 năm chính vì vậy biện pháp này nhằm đảm bảo cho các nhà đầu tư không bị biến động khi có sự thay đổi pháp luật.
Việc bổ sung quy định này nhằm bảo đảm để Việt Nam thực hiện đầy đủ cam kết trong WTO về việc không hồi tố các điều kiện đầu tư  (phạm vi hoạt động, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài). Biện pháp này quy định cụ thể tại Điều 13 LĐT 2014:
“1. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư cao hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư đang được hưởng thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án.
2. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án.
3. Quy định tại khoản 2 Điều này không áp dụng trong trường hợp thay đổi quy định của văn bản pháp luật vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, bảo vệ môi trường.
4. Trường hợp nhà đầu tư không được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều này thì được xem xét giải quyết bằng một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Khấu trừ thiệt hại thực tế của nhà đầu tư vào thu nhập chịu thuế;
b) Điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư;
c) Hỗ trợ nhà đầu tư khắc phục thiệt hại.
5. Đối với biện pháp bảo đảm đầu tư quy định tại khoản 4 Điều này, nhà đầu tư phải có yêu cầu bằng văn bản trong thời hạn 03 năm kể từ ngày văn bản pháp luật mới có hiệu lực thi hành”
Khi có tranh chấp xảy ra nhà nước đảm bảo các bên có quyền giải quyết tranh chấp, dự trên sự thỏa thuận của các bên. Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Trường hợp không thương lượng, hòa giải được thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án. Như vậy, các nhà đầu tư được đảm bảo việc tranh chấp của mình được giải quyết.
Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoặc giữa nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này
Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong đó có ít nhất một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây: Tòa án Việt Nam; Trọng tài Việt Nam;Trọng tài nước ngoài;Trọng tài quốc tế;Trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập.
Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác

II. SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐẦU TƯ NÀY VỚI HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ

Xuất phát từ ý nghĩa về tầm quan trọng của các biện pháp đảm bảo đầu tư mà các biện pháp này có sức ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động đầu tư cả về số lượng và chất lượng của nước ta.
Trước hết, các biện pháp bảo đảm đầu tư góp phần không nhỏ tạo ra môi trường đầu tư bình ổn. Môi trường đầu tư bình ổn sẽ là “lời mời gọi đầy hấp dẫn” với các nhà đầu tư từ đó hiệu quả thu hút đầu tư sẽ tăng cao. Xu hướng quốc tế hóa về đầu tư đã tạo ra những luồng đầu tư không chỉ giới hạn trong khuôn khổ biên giới một quốc gia, các nhà đầu tư đã thực hiện những dự án đầu tư ở nhiều quốc gia khác nhau. Do có sự ổn định trong các quy định về các biện pháp bảo đảm đầu tư mà hầu như ở quốc gia nào các nhà đầu tư cũng có thể yên tâm đầu tư trong môi trường đầu tư không có sự xáo trộn, ít nhất là các vấn đề cơ bản liên quan đến những lợi ích trực tiếp của các nhà đầu tư.
Mặt khác, sự thay đổi một cách linh hoạt và đúng đắn của các biện pháp bảo đảm đầu tư sẽ đồng nghĩa với việc cải tạo môi trường đầu tư một cách tích cực hơn. Điều này còn cho thấy nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống các biện pháp đảm bảo đâu tư đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc tạo lập niềm tin đối với môi trường đầu tư ở Việt Nam của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Hơn nữa, thực hiện hiệu quả các biện pháp đầu tư sẽ góp phần tăng thu hút đầu tư một cách hiệu quả cả về số lượng và chất lượng. Nhìn nhận các biện pháp bảo đảm đầu tư trong tương quan so sánh với môi trường đầu tư có thể nhận thấy rằng, hệ thống các biện pháp bảo đảm đầu tư tốt chính là một trong những yếu tố giúp nhà nước có môi trường đầu tư tốt được đánh giá thông qua khả năng thu hút vốn đầu tư mạnh mẽ và ngày càng tăng.
Đồng thời, khi các biện pháp đảm bảo đầu tư được ban hành đã thể hiện thái độ đầy thiện chí cũng như những nỗ lực của nhà nước trong việc mời gọi các nhà đầu tư đầu tư vào và tìm kiếm lợi nhuận. Những quy định ưu đãi này sẽ tạo được niềm tin cũng như cho các nhà đầu tư cảm giác an toàn khi đầu tư vì có nhiều khía cạnh đầu tư sẽ được “đảm bảo một cách chắc chắn” thông qua các biện pháp bảo đảm đầu tư khiến cho các hoạt động đầu tư càng trở nên thông thoáng và phát triển hơn và như thế chắc chắn hiệu quả đầu tư sẽ được nâng cao.
Đặc trưng của hoạt động đầu tư kinh doanh là khả năng xảy ra rủi ro rất lớn, chính vì vậy khi tiến hành đầu tư nếu có một môi trường đầu tư thuận lợi với những bảo đảm chắc chắn từ phía nước tiếp nhận đầu tư sẽ được các nhà đầu tư hưởng ứng nhiệt tình. Khi thực hiện hiệu quả các biện pháp bảo đảm này sẽ tạo ra những hiệu ứng ảnh hưởng rất tốt đến hiệu quả thu hút đầu tư.
Như vậy, các biện pháp đảm bảo đầu tư có một tầm quan trọng đến hiệu quả của hoạt động thu hút đầu tư. Vì vậy, Việt Nam cũng như mỗi quốc gia trên thế giới cần chú trọng đến việc ban hành cũng như hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này để hoạt động đầu tư đạt hiệu quả cao nhất.



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Luật đầu tư 2014
2.      Giáo trình Luật đầu tư, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND, 2008;
3.      Pháp luật bảo đảm đầu tư ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn –M Khoá luận tốt nghiệp, Vũ Lê Quỳnh Ngân; 2009;
4.      Ý nghĩa của các biện pháp bảo đảm đầu tư – Hanam.gov
5.      Các website:



[1] Tờ trình về dự thảo Luật Đầu tư 2014
[2] : 1. Dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án trong lĩnh vực năng lượng, khai thác, chế biến khoáng sản hoặc sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ xuất khẩu phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đáp ứng các tiêu chí: Là dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư công và thuộc lĩnh vực, địa bàn được Nhà nước khuyến khích đầu tư theo Luật đầu tư.
2. Chương trình, dự án trong lĩnh vực năng lượng, khai thác và chế biến khoáng sản thuộc nhóm A theo Luật Đầu tư công gồm Đầu tư hạ tầng điện lực, đầu tư xây dựng mới nhà máy điện, phân phối điện, truyền tải điện; đầu tư nhà máy lọc dầu.
3- Chương trình, dự án thuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích đầu tư gồm Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông (đường cao tốc) có tổng vốn đầu tư từ 10.000 tỷ đồng trở lên; Phát triển vận tải công cộng (Đầu tư mua máy bay theo chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt).
4- Các dự án đặc biệt do Chính phủ quyết định.

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2016

BẢO ĐẢM ĐẦU TƯ

Luật Đầu tư quy định về các biện pháp bảo đảm đầu tư tại Chương II (từ Điều 6 đến Điều 12). Các biện pháp bảo đảm đầu tư thể hiện tính nhất quán trong việc thực hiện cam kết đảm bảo của Nhà nước đối với lợi ích của nhà đầu tư, phù hợp với nội dung cam kết trong các điều ước quốc tế về khuyến khích và bảo hộ đầu tư. Nội dung bảo đảm đầu tư theo Luật Đầu tư bao gồm:
a) Bảo đảm về vốn và tài sản
            Điều 6 Luật Đầu tư quy định:
            - Vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.
            - Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư thì nhà đầu tư được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố việc trưng mua, trưng dụng. Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.
            - Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản quy định tại khoản 2 Điều này được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi và được quyền chuyển ra nước ngoài.
            - Thể thức, điều kiện trưng mua, trưng dụng theo quy định của pháp luật.
b) Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Theo Điều 7 Luật Đầu tư, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư; bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Cùng với các quy định trong Luật đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư còn được bảo hộ theo các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo các quy định này, các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể được bảo vệ bằng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự.
            c) Mở cửa thị trường, đầu tư liên quan đến thương mại
            Phù hợp với các cam kết quốc tế về đầu tư, Luật Đầu tư đã quy định việc mở cửa thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài theo hướng không hạn chế lĩnh vực, quy mô đầu tư, ngoại trừ một số lĩnh vực đầu tư đặc biệt (ảnh hưởng lớn đến an ninh, quốc phòng, truyền thống văn hóa...). Điều 8 Luật Đầu tư quy định, để phù hợp với các quy định trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Nhà nước bảo đảm thực hiện đối với nhà đầu tư nước ngoài các quy định sau đây:
            - Mở cửa thị trường đầu tư phù hợp với lộ trình đã cam kết;
            - Không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện các yêu cầu sau đây:
            + Ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhất định trong nước;
            + Xuất khẩu hàng hóa hoặc xuất khẩu dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định; hạn chế số lượng, giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước;
            + Nhập khẩu hàng hóa với số lượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá trị hàng hóa xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu;
            + Đạt được tỷ lệ nội địa hóa nhất định trong hàng hóa sản xuất;
            + Đạt được một mức độ nhất định hoặc giá trị nhất định trong hoạt động nghiên cứu và phát triển ở trong nước;
            + Cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc nước ngoài;
            + Đặt trụ sở chính tại một địa điểm cụ thể.
            d) Chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài
            Biện pháp bảo đảm đầu tư này được áp dụng với các nhà đầu tư nước ngoài có hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Theo Luật Đầu tư, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các khoản sau đây:
            - Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh;
            - Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trí tuệ;
            - Tiền gốc và lãi các khoản vay nước ngoài;
            - Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;
            - Các khoản tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư.
            Việc chuyển ra nước ngoài các khoản trên được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi theo tỷ giá giao dịch tại ngân hàng thương mại do nhà đầu tư lựa chọn. Thủ tục chuyển ra nước ngoài các khoản tiền liên quan đến hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
đ) Áp dụng giá, phí, lệ phí thống nhất
            Theo Điều 10 Luật Đầu tư, trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát. 
            e) Bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách
            Theo Điều 11 Luật Đầu tư, trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi và ưu đãi cao hơn so với quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định mới kể từ ngày pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực. Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi quy định của pháp luật, chính sách đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi như quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây:
            - Tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi;
            - Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế; 
            - Được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án;
            - Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.
            Căn cứ vào quy định của pháp luật và cam kết trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể về việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc thay đổi pháp luật, chính sách ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của nhà đầu tư.
            g) Giải quyết tranh chấp
            Theo Điều 12 Luật Đầu tư, cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư được quy định thống nhất như sau:
            - Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải, Trọng tài Thương mại hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật.
            - Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau hoặc với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam.
            - Tranh chấp mà một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây:
            + Toà án Việt Nam;
            + Trọng tài Việt Nam;
            + Trọng tài nước ngoài;
            + Trọng tài quốc tế;
            + Trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập.

            - Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nước ngoài hoặc trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ LUẬT ĐẦU TƯ

BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ LUẬT ĐẦU TƯ
(Dành cho các lớp học từ tháng 8 năm 2016)
          Sinh viên được chủ động chọn Bài tập lớn học kỳ.
          Bài tập 1.
          Một nhà đầu tư Việt Nam dự định triển khai 1 dự án xây dựng bến phà nằm trên địa bàn 2 tỉnh A và B, nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách qua dòng sông nằm giữa địa bàn 2 tỉnh, kinh phí khoảng 1.000 tỷ đồng. Hãy tư vấn cho nhà đầu tư về hình thức đầu tư và thủ tục triển khai dự án đầu tư.
          Bài tập 2
          Một nhà đầu tư Việt Nam dự định triển khai 1 dự án xây dựng bến phà nằm trên địa bàn 2 tỉnh A và B, nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách qua dòng sông nằm giữa địa bàn 2 tỉnh, kinh phí khoảng 1.000 tỷ đồng. Phân tích các biện pháp đảm bảo và ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư nói trên có thể được hưởng và cách thức để được hưởng những biện pháp đảm bảo và ưu đãi đó.
          Bài tập 3
          Một nhà đầu tư nước ngoài dự định đầu tư thành lập một doanh nghiệp tại Việt  Nam để sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Hãy tư vấn cho họ tất cả các quy định pháp luật mà nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam cần phải biết.
          Bài tập 4
          Phân tích những ưu điểm và hạn chế của h́nh thức đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh. Phân biệt hợp đồng hợp tác kinh doanh với hợp đồng liên doanh.

          Bài tập 5
          Phân tích nguyên tắc, hình thức và điều kiện đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp theo quy định pháp luật hiện hành. Đánh giá mục đích, ý nghĩa của những quy định này.
          Bài tập 6
          Sưu tầm và phân tích một số vụ việc về dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài. Trên cơ sở đó, hãy kết luận tóm tắt về các vấn đề pháp lý mà các doanh nghiệp này đã phải thực hiện khi triển khai các dự án đầu tư ra nước ngoài đó (chuẩn bị đầu tư, thủ tục đầu tư, triển khai dự án đầu tư tại nước sở tại...)
Bài tập 7
Phân tích thủ tục đầu tư theo Luật Đầu tư 2014, qua đó đánh giá sự thay đổi, phát triển của Luật Đầu tư 2014 so với Luật Đầu tư 2005.
Bài tập 8
Phân tích nội dung của các biện pháp bảo đảm đầu tư và cho biết ý kiến của mình về sự ảnh hưởng của các biện pháp bảo đảm đầu tư này đối với hiệu quả đầu tư.
Bài tập 9 
Phân tích hình thức, điều kiện và thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế của nhà đầu tư.
          Bài tập 10
Phân tích thủ tục cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư theo pháp luật hiện hành.