Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT TÀI CHÍNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT TÀI CHÍNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp - Nhân tố bên trong
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp
Nhân tố về vốn vật chất hay sức mạnh về tài chính
Trong kinh doanh nếu không có vốn doanh nghiệp sẽ không thể làm được gì ngay cả khi đã có cơ hội kinh doanh. Có vốn và trường vốn giúp doanh nghiệp thực hiện các công việc kinh doanh của mình một cách dễ dàng hơn, có điều kiện để tận dụng các cơ hội để thu lợi lớn. Sự trường vốn tạo ra khả năng nắm bắt thông tin nhanh, chính xác do có điều kiện sử dụng các phưong tiện hiện đại. Ngoài ra còn cho phép doanh nghiệp có thể thực hiện tốt các công cụ marketing trên thị trường về giá cả, cách thức nhập khẩu và bán hàng trên thị trường nội địa, tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu.Nhân tố con người
Trình độ chuyên môn và năng lực làm việc của mỗi thành viên trong Công ty là yếu tố cơ bản quyết định sự thành công trong kinh doanh. Xét về tiềm lực của doanh nghiệp thì con người là vốn quý nhất. Một đội ngũ vững vàng về chuyên môn, kinh nghiệm trong giao thương quốc tế, có khả năng ứng phó linh hoạt trước biến động của thị trường và say mê nhiệt tình trong công việc luôn là đội ngũ lý tưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Do đặc điểm riêng của kinh doanh TMQT là thường xuyên phải giao dịch với đối tác nước ngoài nên cán bộ ngoài giỏi nghiệp vụ kinh doanh còn phải giỏi ngoại ngữ. Ngoại ngữ kém sẽ gây khó khăn trong việc giao dịch, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công việcLợi thế bên trong của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp kinh doanh lâu năm, có uy tín trên thị trường là một điều kiện rất thuận lợi. Có uy tín với bạn hàng về việc thanh toán đủ, đúng hạn sẽ thuận lợi cho những hợp đồng sau này. Uy tín của doanh nghiệp là nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp. Nếu có chức năng nhập khẩu uỷ thác thì khi doanh nghiệp có uy tín sẽ có nhiều các đơn vị trong nưóc uỷ thác việc nhập khẩu cho doanh nghiệp. Hàng hoá của doanh nghiệp dễ tiêu thụ hơn những doanh nghiệp làm ăn không đứng đắn, mất uy tín với khách hàng. Ngoài ra, một doanh nghiệp có kinh nghiệm trong nhập khẩu một sản phẩm nào đó sẽ lựa chọn được nguồn hàng tốt nhất phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng trong nước do am hiểu về thị trường, có những mối quan hệ rộng, lâu năm.Tin vắn
Ngân hàng Nhà nước ban hành một số quy định về quy định phòng chống rửa tiền tại Thông tư số 31/2014/TT-NHNN. Các nội dung chính liên quan đến các biện pháp đánh giá tăng cường đối với khách hàng rủi ro; Danh sách cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị; Báo cáo giao dịch chuyển tiền điện tử…Danh sách văn bản mới về lĩnh vực tài chính – ngân hàng
Ngày 11/11/2014, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 31/2014/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 35/2013/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2013 hướng dẫn thực hiện một số quy định về phòng, chống rửa tiền. Thông tư có hiệu lực từ ngày 26/12/2014.Thở phào với thu nhập chịu thuế
Thở phào với thu nhập chịu thuế
Không tính thu nhập chịu thuế đối với khoản chênh lệch khi đánh giá lại giá trị tài sản doanh nhiệp cổ phần hóa… Đó là một trong những quy định mới tại Thông tư 151/TT-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các nghị định quy định về thuế vừa được Tổng Cục Thuế vừa ban hành, có hiệu lực từ 15- 11. Theo đó, doanh nghiệp (DN), cá nhân sẽ giảm khá nhiều các khoản thu nhập tính thuế.Minh bạch giá trị tài sản
Theo Tổng Cục thuế, trong giai đoạn 2012 – 2013, khi đánh giá lại tài sản đối với DN cổ phần hóa, sắp xếp đổi mới DN 100% vốn nhà nước thường lộ ra một khoản chênh lệch về giá trị tài sản. Khoản chệch lệch này được tính vào thu nhập khác khi xác định thu nhập chịu thuế. Các chuyên gia tài chính cho rằng quy định trên vô tình trở thành rào cản tiến trình đổi mới DN nhà nước. Bởi khoản chênh lệch về giá trị tài sản chỉ thể hiện trên sổ sách, không phải thu nhập thực tế. Do đó, DN thường chần chừ tiến hành cổ phần hóa, vì nếu đánh giá đúng giá trị tài sản thì tiền đâu để nộp thuế?. Từ đó, tiến trình tái cơ cấu DN nhà nước chậm lại. Để góp phần thúc đẩy tái cơ cấu DN, Thông tư 151/TT-BTC quy định không tính thu nhập chịu thuế đối với khoản chênh lệch từ việc đánh giá lại giá trị tài sản đối với DN cổ phần hóa, sắp xếp, đổi mới DN 100% vốn nhà nước. Giới phân tích cho rằng việc này sẽ làm cho DN định giá tài sản sát với giá cả thị trường, tiến trình cổ phần hóa trở nên minh bạch, giá trị vốn góp của nhà nước được bảo đảm đúng giá trị thực, kích thích các nhà đầu tư trong vào ngoài nước mua cổ phần DN.Góp phần tháo gỡ nợ xấu
Một vấn đề khác, hiện nay, DN bán tài sản thế chấp là bất động sản theo ủy quyền của ngân hàng (NH) để trả nợ vay phải nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT). Nhiều ý kiến cho rằng quy định này làm cản trở việc giải quyết nợ xấu. Bởi khi bên vay đã bán tài sản đồng nghĩa họ đã cạn kiệt về tài chính, lại gánh thêm thuế GTGT là quá sức chịu đựng. Đề góp phần giải quyết nợ xấu, Thông tư 151/TT-BTC bổ sung quy định DN không chịu thuế GTGT khi bán tài sản thế chấp là bất động sản theo ủy quyền của NH để trả nợ khoản vay. Tuy nhiên, một quan chức của ngành thuế cho rằng quy này chỉ thuận lợi cho DN bán tài sản là bất động sản chưa có thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp bất động sản đó đã có thuế giá trị gia tăng đầu vào, nay DN bán để trả nợ NH và không phải chịu thuế giá trị gia tăng thì chưa chắc DN được hoàn thuế giá trị gia tăng.Tăng chi phí hợp lệ
Thông tư cũng cho phép DN được tính chi phí hợp lệ khi tính thuế thu nhập DN đối với khoản chi phúc lợi cho người lao động như: chi đám hiếu hỷ của bản thân và gia đình; nghỉ mát, hỗ trợ điều trị bệnh; đào tạo, bố sung kiến thức; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; hỗ trợ chi phí đi lại ngày lễ, tết cho người lao động và những khoản chi có tính chất phúc lợi khác. Tuy nhiên, tổng số tiền mà DN chi phúc lợi không được quá 1 tháng lương bình quân của. Việc xác định 1 tháng lương bình quân bằng quỹ lương của DN chia cho12 tháng. Nhiều DN cho biết với quy định trên, khi DN quyết toán thuế, cơ quan thuế cần bổ sung các khoản chi này vào chi phí hợp lệ, số tiền mà DN đóng thuế sẽ giảm xuống. Ví dụ, một DN có quỹ trả lương bình quân cho người lao động 1 tỉ đồng/tháng nhân với thuế suất 24% sẽ giảm được 240 triệu đồng tiền thuế thu nhập.Nâng cao kết quả kiểm toán NSNN
Nâng cao kết quả kiểm toán NSNN
Để nâng cao kết quả kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành NSNN, KTNN cũng đã đưa ra đề xuất một số giải pháp.Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý NSNN, nhất là sửa đổi căn bản Luật NSNN năm 2002 trong đó đổi mới quy trình lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách theo hướng hiện đại, dựa vào kết quả đầu ra và áp dụng kế hoạch tài chính ngân sách trung hạn, thực hiện các mục tiêu chiến lược ưu tiên của quốc gia; tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về NSNN; đồng thời tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền và chế tài xử lý vi phạm nhằm bảo đảm tính hiệu quả của công tác quản lý NSNN; rà soát, sửa đổi, bổ sung các định mức, tiêu chuẩn cho phù hợp với thực tế và bao quát hết các nội dung chi; hoàn thiện các quy định về quản lý nợ công theo hướng quản lý thống nhất, bổ sung các tiêu chí đánh giá phù hợp với thông lệ quốc tế...
Hai là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực KTNN; Xây dựng và hoàn thiện các hướng dẫn kiểm toán hoạt động; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của KTNN.
Ba là, đổi mới phương pháp kiểm toán. Hoàn thiện và kết hợp nhuần nhuyễn kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động, đồng thời tích cực chuyển dần trọng tâm sang kiểm toán hoạt động. Tăng cường kiểm toán tổng hợp để đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và hiệu lực của các chính sách, chế độ của nhà nước; đồng thời tăng cường kiến nghị tư vấn trong công tác quản trị và điều hành NSNN đảm bảo minh bạch, hiệu quả. Đẩy mạnh việc kiểm toán các chuyên đề chuyên sâu, đặc biệt là các chuyên đề mang tính dài hạn, các chương trình mục tiêu và các lĩnh vực được quốc hội, công chúng quan tâm. Từng bước thực hiện kiểm toán trước (tiền kiểm) khi nền kinh tế phát triển theo chiều sâu và quản lý chi tiêu công chuyển sang quản trị theo kết quả đầu ra, lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Bốn là, tăng cường và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa KTNN với các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương cũng như với đơn vị được kiểm toán. Sự phối hợp và ủng hộ của các cấp, các ngành, địa phương và đơn vị được kiểm toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng, tạo điều kiện để KTNN ngày càng hoàn thiện, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả kiểm toán, phục vụ và đáp ứng yêu cầu trong việc sử dụng kết quả kiểm toán để giám sát tài chính công và quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội
Cần sớm nâng cao hiệu quả kiểm toán ngân sách Nhà nước
Cần sớm nâng cao hiệu quả kiểm toán ngân sách Nhà nước
Theo Kiểm toán Nhà nước (KTNN), kết quả kiểm toán những năm qua cho thấy, trong những năm qua, việc quản lý, điều hành ngân sách Nhà nước (NSNN) theo Luật NSNN năm 2002 đã đạt nhiều hiệu quả tích cực, tuy nhiên đến nay đã bộc lộ một số hạn chế cần bổ khuyết. Bộc lộ hạn chế quản lý điều hành NSNN Theo KTNN, việc quản lý, điều hành NSNN theo Luật NSNN năm 2002 đã tạo được sự chuyển biến quan trọng trong công tác cải cách thủ tục hành chính, thực hiện công khai ngân sách được đẩy mạnh, việc kiểm soát, thanh tra, kiểm toán được tăng cường và chú trọng nên đã từng bước nâng cao được kỷ cương, kỷ luật tài chính trong quản lý NSNN.Mặc dù vậy, KTNN cũng cho rằng, nhiều bộ, ngành, địa phương lập dự toán thu còn thấp, không sát với thực tế nên kết quả thu ngân sách hàng năm vượt so với dự toán khá lớn, trong khi dự toán chi lập cao hơn thực tế, thiếu cơ sở, chưa sát, chưa đúng định mức, sai tính chất nguồn kinh phí.... Phân bổ và giao dự toán chậm hoặc chưa phù hợp nhu cầu và khả năng thực hiện nên phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần hoặc phải hủy dự toán; phân bổ và giao dự toán khi chưa xác định rõ nội dung, nhiệm vụ chi, không đúng nội dung nguồn kinh phí, không đúng phương án phân bổ của Bộ Tài chính,… Bố trí vốn đầu tư xây dựng còn dàn trải, chưa ưu tiên bố trí vốn để trả nợ theo quy định, bố trí vồn cho các dự án chưa đủ điều kiện, bố trí vốn cho các dự án nhóm B quá 05 năm, nhóm C quá 03 năm… Bên cạnh đó, thu từ dầu thô và thu từ đất chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu thu, một số khoản thu từ sản xuất kinh doanh thường xuyên không đạt dự toán, nhất là thu từ doanh nghiệp nhà nước. Công tác quản lý Nhà nước về thu còn nhiều bất cập, thu nợ chưa triệt để, nợ đọng thuế còn lớn, tình trạng hạch toán và kê khai thiếu doanh thu, xác định sai chi phí tính thuế, số thuế phải nộp còn xảy ra ở nhiều nơi kể cả các doanh nghiệp và các tổ chức và đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc một số bộ, cơ quan trung ương, địa phương. Việc phê duyệt dự án đầu tư còn bất cập, nhiều dự án phải phê duyệt điều chỉnh quy mô, tăng tổng mức đầu tư; phê duyệt đầu tư khi chưa xác định rõ nguồn vốn, không phù hợp với quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, đầu tư thiếu đồng bộ. Trong thực hiện còn có dự án chất lượng khảo sát không đảm bảo; thiết kế, lập dự toán không phù hợp. Trong việc đấu thầu còn có hiện tượng chia nhỏ gói thầu, lựa chọn nhà thầu không đảm bảo năng lực, áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu không phù hợp quy định, hợp đồng chưa chặt chẽ. Tình trạng thi công chậm tiến độ còn phổ biến, nhiều dự án chậm tiến độ kéo dài, làm tăng chi phí thực hiện. Công tác quản lý chất lượng công trình một số dự án chưa được thực hiện nghiêm túc; chất lượng một số công trình, dự án chưa đảm bảo. Nhiều dự án nghiệm thu sai khối lượng, không đúng thực tế thi công, chưa đầy đủ hồ sơ, thanh toán sai đơn giá... Công tác lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo quyết toán vốn đầu tư còn kéo dài, không đảm bảo thời gian quy định. Công tác quản lý nợ công của Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu bổ sung vốn cho đầu tư phát triển và tài trợ cho bội chi NSNN; nợ công nằm trong tầm kiểm soát và không nằm trong nhóm các nước có gánh nặng về nợ (mức nợ của Việt Nam trên GDP trong năm 2010, 2011, 2012 lần lượt chiếm 56,8%, 54,9% và 55,6%, thấp hơn mức dự kiến về chỉ số nợ công đề ra tại Chiến lược nợ công giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là 65%). Tuy nhiên, kết quả kiểm toán cũng đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế như: Xây dựng quy định quản lý nợ công chưa kịp thời; quản lý nợ công bị phân tán bởi nhiều đơn vị tại Bộ Tài chính trong khi phối hợp giữa các đơn vị này chưa được chặt chẽ; các đơn vị chưa lập báo cáo tài chính về nợ công để làm cơ sở cho kiểm toán tài chính; chưa có mối liên kết giữa nợ trong nước và nợ nước ngoài; quản lý cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ còn một số hạn chế
Không đóng dấu “mật” với báo cáo ngân sách
Không đóng dấu “mật” với báo cáo ngân sách
Không áp dụng cơ chế báo cáo “mật” đối với dự toán, quyết toán khi trình ra các cơ quan dân cử. Đây là quan điểm được Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách đưa ra khi thẩm tra sơ bộ dự án Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi). Tại phiên họp sáng 2/10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến lần đầu về dự án luật này. Theo cơ quan thẩm tra, các thông tin mật chỉ được áp dụng cho lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Và các hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức xã hội và của nhân dân cần được cụ thể hóa trong luật. Thường trực cơ quan thẩm tra cũng đặc biệt nhấn mạnh chi ngân sách cần phải tuân thủ quy định của Hiến pháp: các khoản thu, chi phải được dự toán. Do đó, cơ quan thẩm tra đề nghị bổ sung quy định “không một khoản chi nào được chi ra khỏi Kho bạc Nhà nước nếu không có dự toán được duyệt của cấp có thẩm quyền” vào dự thảo luật. Nhiều quy định khác tại dự thảo luật cũng không được cơ quan thẩm tra đồng tình. Chính phủ đề nghị cho phép được ứng trước ngân sách nhà nước năm sau như hiện hành nhưng đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban đề nghị bỏ quy định này, kể cả các khoản tạm ứng của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Việc cho phép ứng trước dự toán ngân sách năm sau không phù hợp theo quy định của Hiến pháp là các khoản thu, chi ngân sách nhà nước phải được dự toán, Chủ nhiệm Phùng Quốc Hiển nêu rõ. Việc cho ứng trước, theo cơ quan thẩm tra là sẽ hạn chế thẩm quyền quyết định ngân sách nhà nước của Quốc hội do phải hợp thức hóa các khoản đã ứng trước trong khi Quốc hội chưa xem xét ngân sách năm sau. Tiếp tục không nhận được sự đồng tình của thường trực cơ quan thẩm tra là việc dự thảo luật cho phép các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương được giữ lại tối đa không quá 5% dự toán chi thường xuyên đã được giao để chủ động thực hiện các nhiệm vụ đột xuất phát sinh trong năm. Quy định dự phòng ngân sách ở các bộ, cơ quan Trung ương sẽ dẫn đến ngân sách bị phân tán, chia nhỏ, không tập trung, cơ quan thẩm tra lập luận. Bên cạnh các vấn đề cụ thể, ở phạm vi sửa đổi, một số ý kiến tại cơ quan thẩm tra cũng khác với quan điểm của Chính phủ. Đó là Quốc hội sẽ ban hành luật ngân sách thường niên thay vì ban hành nghị quyết như hiện nay với quy trình ngân sách theo 2 bước.Bước một là tại kỳ họp giữa năm, Quốc hội sẽ cho ý kiến về những chỉ tiêu và cân đối lớn (khung ngân sách) như các chính sách lớn về thu, chi, các ưu tiên và nguyên tắc trong phân bổ ngân sách, tổng thu, tổng chi, chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ và dự kiến mức bội chi, số bổ sung của ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương.
Bước hai, tại kỳ họp cuối năm, Quốc hội sẽ xem xét, quyết định dự toán ngân sách, phân bổ ngân sách Trung ương theo số liệu chi tiết, cụ thể hơn cho từng ngành, từng lĩnh vực. Điều này đảm bảo chất lượng quyết định ngân sách nhà nước của Quốc hội và hội đồng nhân dân, tiến dần đến thông lệ quốc tế được nhiều nước áp dụng, báo cáo thẩm tra nêu. Sửa luật phải theo các thông lệ quốc tế về ngân sách cũng là lưu ý của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Bội chi, nợ công, GDP hiện nay quốc tế tính một đường mình tính một đường, Chủ tịch nhận xét. Theo Chủ tịch, Luật Ngân sách là công khai minh bạch, cần bớt tối đa xin - cho. Tại kỳ họp thứ 8 được khai mạc ngày 20/10 tới đây, dự án Luật Ngân sách (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội thảo luận.
Thông tư hướng dẫn hoạt động ủy thác, nhận ủy thác của tổ chức tín dụng
Thông tư hướng dẫn hoạt động ủy thác, nhận ủy thác của tổ chức tín dụng
Ngày 06/11/2014, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 30/2014/TTNHNN quy định về ủy thác và nhận ủy thác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư áp dụng đối với TCTD (bao gồm cả ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã), chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức, cá nhân là người cư trú và người không cư trú có liên quan đến hoạt động ủy thác và nhận ủy thác. Theo đó, NHTM được ủy thác cho: NHTM khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính để thực hiện cho vay đối với khách hàng; Ngân hàng hợp tác xã để thực hiện cho vay đối với khách hàng không phải là thành viên của ngân hàng hợp tác xã; QTDND để thực hiện cho vay đối với khách hàng không phải là thành viên QTDND; Tổ chức tài chính vi mô để thực hiện cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ.Để thực hiện hoạt động ủy thác và nhận ủy thác, các TCTD phải đáp ứng được các điều kiện:
Thứ nhất, hoạt động ủy thác, nhận ủy thác phải được ghi trong Giấy phép thành lập và hoạt động.
Thứ hai, phải có quy định nội bộ về quản lý hoạt động ủy thác và nhận ủy thác, trong đó có nội dung về nhận dạng, đo lường và quản lý các rủi ro của hoạt động ủy thác và nhận ủy thác phù hợp với tính chất, quy mô hoạt động của TCTD.
Thứ ba, hoạt động ủy thác và nhận ủy thác phải được quản lý rủi ro bởi một bộ phận quản lý rủi ro. Thứ tư, bên nhận ủy thác có cơ sở vật chất, mạng lưới và đội ngũ cán bộ có trình độ, chuyên môn, kỹ thuật để đảm bảo thực hiện nội dung ủy thác.
Thứ năm, trường hợp TCTD nhận vốn ủy thác của tổ chức, cá nhân để thực hiện đầu tư vào dự án sản xuất, kinh doanh, cho thuê tài chính, cho vay, ngoài các điều kiện quy định nêu trên còn phải đảm bảo tại thời điểm ủy thác, bên ủy thác là tổ chức, cá nhân không có dư nợ vay TCTD.
Thông tư 30/2014/TT-NHNN cũng quy định rõ những trường hợp không được ủy thác, nhận ủy thác. Theo đó TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được ủy thác, nhận ủy thác cho vay đối với đối tượng ủy thác thuộc các trường hợp không được cấp tín dụng quy định tại Điều 126, Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng và quy định của NHNN về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô không được ủy thác, nhận ủy thác cho thuê tài chính. TCTD (trừ ngân hàng thương mại), chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được ủy thác, nhận ủy thác góp vốn, mua cổ phần. Ngân hàng thương mại không được ủy thác, nhận ủy thác góp vốn, mua cổ phần đối với các đối tượng ủy thác thuộc các trường hợp không được góp vốn, mua cổ phần quy định tại khoản 5 Điều 129 Luật Các tổ chức tín dụng và quy định của NHNN về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. TCTD (trừ công ty tài chính), chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được ủy thác, nhận ủy thác đầu tư vào dự án sản xuất, kinh doanh. Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô không được ủy thác, nhận ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp. TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được ủy thác, nhận ủy thác mua trái phiếu của tổ chức tín dụng khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác. Những quy định kể trên đã bổ sung cơ sở pháp lý cho những yêu cầu đảm bảo tính công khai, minh bạch trong hoạt động của TCTD, và góp phần xác định ranh giới thị trường cho từng loại hình TCTD. Thông tư sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015
Những điều chỉnh quan trọng về thuế tại Nghị định 91/2014/NĐ-CP
Những điều chỉnh quan trọng về thuế tại Nghị định 91/2014/NĐ-CP
Ngày 1/10, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về thuế. Nghị định đã có những điều chỉnh quan trọng so với các nghị định về thuế trước đó, có thể tóm tắt về nội dung của Nghị định và những thay đổi chính như sau:1- Bổ sung quy định không tính thuế TNDN đối với chênh lệch do đánh giá lại tài sản của doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa (khoản 1 Điều 1 NĐ 91).
2- Sửa đổi thời gian miễn thuế từ 01 năm lên không quá 03 năm đối với thu nhập từ thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; thu nhập từ bán sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng VN theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ, được miễn thuế từ 01 năm lên tối đa không quá 05 năm kể từ ngày có doanh thu từ bán sản phẩm; thu nhập từ bán sản phẩm sản xuất thử nghiệm trong thời gian sản xuất thử nghiệm theo quy định của pháp luật (K2 Đ1 NĐ 91);
3- Bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi có tính chất phúc lợi (chi đám hiếu, hỷ của bản thân và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ BẢN TIN PHÁP LUẬT (Bộ môn Luật Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Luật Hà Nội) Ban biên tập Người thực hiện : Hoàng Minh Thái Chịu trách nhiệm kiểm soát về nội dung : PGS.TS. Phạm Thị Giang Thu Bản tin được xác định là tài sản của Ban biên tập, cấm vi phạm Bộ môn Luật TCNH _HLU Bản tin pháp luật tài chính - ngân hàng từ 29/09 đến 04/10 năm 2014 Trang 2 trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con cái của người lao động có thành tích tốt trong học tập;...) chi trực tiếp cho người lao động không quá 01 tháng lương thực tế thực hiện (K4 Đ1 NĐ 91);
4- Bổ sung quy định cho phép DN được trích khấu hao theo giá trị thực tế đối với ô tô dưới chín chỗ ngồi sử dụng để làm mẫu và lái thử của các cơ sở kinh doanh ô tô (hiện hành chỉ cho trích khấu hao và tích vào chi phí phần nguyên giá dưới 1.6 tỷ) (K5 Đ1 NĐ 91);
5- Bổ sung quy định Địa bàn có điều kiện - kinh tế xã hội thuận lợi không bao gồm các quận của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh mới được thành lập từ huyện kể từ ngày 01/01/2009, theo đó, DN có dự án đầu tư tại KCN thuộc các địa bàn này được hưởng ưu đãi theo quy định (K6 Điều 1NĐ 91);
6- Bổ sung quy định đối với dự án phân kỳ đầu tư và dự án trang bị bổ sung máy móc thường xuyên được hưởng ưu đãi thuế theo mức ưu đãi đang áp dụng đối với dự án đầu tư lần đầu; đối với dự án đầu tư được cấp giấy phép đầu tư trước ngày 01/01/2014 thì ưu đãi thuế được hưởng cho thời gian ưu đãi còn lại được tính từ ngày 01/01/2014 (K7 Đ1 NĐ 91)
7- Bổ sung quy định chuyển tiếp ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp dệt may đáp ứng tiêu chí xuất khẩu bị ngừng ưu đãi thuế do thực hiện cam kết WTO được lựa chọn để hưởng ưu đãi thuế theo các điều kiện doanh nghiệp đáp ứng (ngoài điều kiện ưu đãi do đáp ứng điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu) cho thời gian ưu đãi còn lại theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật trước đây về thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điểm được cấp Giấy phép thành lập hoặc tại các văn bản quy phạm pháp luật trước đây về thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điểm điều chỉnh do cam kết WTO (K8 Đ1 NĐ91).
8- Cập nhật thông tin về một số địa bàn tại Phụ lục Danh mục địa bàn ưu đãi thuế TNDN để phù hợp với thực tế (từ thị xã lên thành thành phố) (K9 Đ1 NĐ 91)
9- Bổ sung quy định trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào (K2 Đ2 NĐ 91);.
10- Bổ sung quy định được khấu trừ thuế GTGT theo giá trị thực tế đối với ô tô dưới chin chỗ ngồi dùng để làm mẫu và lái thử của các cơ sở kinh doanh ô tô (K3 Đ2 NĐ 91).
11- Bổ sung quy định được trừ khỏi diện thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản lợi ích nhận được là nhà ở do doanh nghiệp xây dựng cho công nhân làm việc trong các khu kinh tế, khu CN (K1 Đ2 NĐ91);
12- Bổ sung quy định cho phép cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán không phải quyết toán thuế TNCN (K2 Đ2 NĐ 91);
13- Bổ sung quy định không phải quyết toán thuế đối với cá nhân là đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp (K3 Đ2 NĐ91).
14- Bổ sung quy định trường hợp người nộp thuế tạm ngừng hoạt động kinh doanh đã có văn bản đề nghị gửi cơ quan đăng ký kinh doanh nơi người nộp thuế đã đăng ký thì không phải nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh (K1 Đ4 NĐ 91);
15- Bổ sung vào diện được áp dụng biện pháp ưu tiên trong quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm: doanh nghiệp có qui mô đầu tư lớn, dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư ưu tiên được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận trước khi cấp phép đầu tư (K2 Đ4 NĐ 91);
16- Bổ sung quy định về mức doanh thu khai theo quý (thay cho tháng) áp dụng đối với người nộp thuế đáp ứng điều kiện có tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống (K3 Điều 4);
17- Bổ sung quy định không thực hiện khai quyết toán thuế TNDN các trường hợp chuyển đổi mà bên tiếp nhận kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp trước chuyển đổi (K4 Đ4 NĐ 91);
18- Quy định doanh nghiệp không phải kê khai thuế TNDN theo quý mà tạm nộp theo quý quyết toán theo năm (K5 Đ4 NĐ 91)
Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp
Nhân tố về vốn vật chất hay sức mạnh về tài chính
Trong kinh doanh nếu không có vốn doanh nghiệp sẽ không thể làm được gì ngay cả khi
đã có cơ hội kinh doanh. Có vốn và trường vốn giúp doanh nghiệp thực hiện các công
việc kinh doanh của mình một cách dễ dàng hơn, có điều kiện để tận dụng các cơ hội để
thu lợi lớn.
Sự trường vốn tạo ra khả năng nắm bắt thông tin nhanh, chính xác do có điều kiện sử
dụng các phưong tiện hiện đại. Ngoài ra còn cho phép doanh nghiệp có thể thực hiện tốt
các công cụ marketing trên thị trường về giá cả, cách thức nhập khẩu và bán hàng trên
thị trường nội địa, tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Nhân tố con người
Trình độ chuyên môn và năng lực làm việc của mỗi thành viên trong Công ty là yếu tố
cơ bản quyết định sự thành công trong kinh doanh. Xét về tiềm lực của doanh nghiệp thì
con người là vốn quý nhất. Một đội ngũ vững vàng về chuyên môn, kinh nghiệm trong
giao thương quốc tế, có khả năng ứng phó linh hoạt trước biến động của thị trường và
say mê nhiệt tình trong công việc luôn là đội ngũ lý tưởng trong hoạt động xuất nhập
khẩu của doanh nghiệp.
Do đặc điểm riêng của kinh doanh TMQT là thường xuyên phải giao dịch với đối tác
nước ngoài nên cán bộ ngoài giỏi nghiệp vụ kinh doanh còn phải giỏi ngoại ngữ. Ngoại
ngữ kém sẽ gây khó khăn trong việc giao dịch, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp
1/4
Lợi thế bên trong của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp kinh doanh lâu năm, có uy tín trên thị trường là một điều kiện rất
thuận lợi. Có uy tín với bạn hàng về việc thanh toán đủ, đúng hạn sẽ thuận lợi cho những
hợp đồng sau này. Uy tín của doanh nghiệp là nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh
và vị thế của doanh nghiệp. Nếu có chức năng nhập khẩu uỷ thác thì khi doanh nghiệp
có uy tín sẽ có nhiều các đơn vị trong nưóc uỷ thác việc nhập khẩu cho doanh nghiệp.
Hàng hoá của doanh nghiệp dễ tiêu thụ hơn những doanh nghiệp làm ăn không đứng
đắn, mất uy tín với khách hàng.
Ngoài ra, một doanh nghiệp có kinh nghiệm trong nhập khẩu một sản phẩm nào đó sẽ
lựa chọn được nguồn hàng tốt nhất phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng
trong nước do am hiểu về thị trường, có những mối quan hệ rộng, lâu năm.
Nhóm nhân tố bên ngoài
Chính sách của Chính phủ
Chính sách của Chính phủ có tác động không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động nhập
khẩu. Các chính sách tài chính tín dụng ưu đãi cho các nhà nhập khẩu sẽ tạo cho họ nắm
được cơ hội kinh doanh và thu lợi nhuận. Chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước
và khuyến khích thay thế hàng nhập khẩu đã làm giảm hiệu quả kinh doanh của các nhà
nhập khẩu muốn thu lợi nhuận qua việc bán hàng nhập khẩu trong nước, nhưng mang
lại hiệu quả kinh tế xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động, hơn nữa khuyến
khích các ngành sản xuất trong nước phát huy được khả năng của mình.
Thuế nhập khẩu
Thuế nhập khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá hoặc tính theo phần trăm
đối với tổng trị giá hàng hoá hay là kết ọp cả hai cách nói trên đối với hàng nhập khẩu.
Theo đó người mua trong nước phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu một khoản lớn
hơn mức mà người xuất khẩu nước ngoaì nhận được.
Thuế nhập khẩu nhằm bảo vệ và phát triển sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng trong nước
và góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên thuế nhập khẩu làm cho
giá bán trong nước của hàng nhập khẩu cao hơn mức giá nhập và chính người tiêu dùng
trong nước phải chịu thuế này. Nếu thuế này quá cao sẽ đưa đến tình trạng giảm mức
cầu của người tiêu dùng đối với hàng nhập và làm hạn chế mức nhập khẩu của doanh
nghiệp.
Từ cuối thập kỷ 80, nhiều quốc gia đã thay đổi chiến lược phát triển TMQT, đẩy mạnh
xuất khẩu và nâng cao trình độ sản xuất trong nước, cạnh tranh với thị trường thế giới.
Để thực hiện chiến lược đó, nhiều nước đã cắt giảm thuế quan để khuyến khích trao đổi.
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp
2/4
Ví dụ như Đài Loan đã giảm thuế hàng nhập khẩu từ 40% xuống 20%. Thái Lan giảm
thuế xuất nhập khẩu máy móc thiết bị từ 30% xuống còn 5%. Việt Nam với tiến trình
tham gia vào AFTA giảm mức thuế suất xuất nhập khẩu xuống còn 0 - 5% vào năm
2006. Còn hiện tại việc quy định mức thuế xuất nhập khẩu luôn là đề tài được quan tâm
từ nhiều phía.
Hạn ngạch nhập khẩu
Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nước nhằm hạn chế nhập khẩu về số lượng
hoặc giá trị một số mặt hàng nhất định hoặc từ những thị trường nhất định trong một
khoảng thời gian thường là một năm.
Mục tiêu việc áp dụng biện pháp quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch của Nhà nước nhằm
bảo hộ sản xuất trong nước, sử dụng có hiệu quả quỹ ngoại tệ, bảo đảm các cam kết của
Chính phủ ta với nước ngoài.
Hạn ngạch nhập khẩu đưa đến tình trạng hạn chế số lượng nhập khẩu đồng thời gây ảnh
hưởng đến giá nội địa của hàng hoá. Hạn ngạch nhập khẩu có tác động tương đối giống
với thuế nhập khẩu tức là do có hạn ngạch làm giá hàng nhập khẩu trong nước sẽ tăng
lên. Nhưng hạn ngạch không làm tăng thu ngân sách. Đối với cả Chính phủ và các doanh
nghiệp trong nước, việc cấp hạn ngạch nhập khẩu có lợi là xác định được khối lượng
nhập khẩu biết trước.
Hiện nay Nhà nước ta tiến hành đấu thầu hạn ngạch chứ không phân bổ trực tiếp cho
các doanh nghiệp như trước đây nữa. Doanh nghiệp nào thắng thầu thì sẽ có quyền nhập
khẩu mặt hàng đó với số lượng quy định.Tuy nhiên việc nhập khẩu nhiều hay ít khi
doanh nghiệp đã thắng thầu phụ thuộc vào đinh ngạch (tổng hạn ngạch) mà Chính phủ
đưa ra.
Tỷ giá hối đoái
Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền
tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định. Vì vậy, giá cả của một đơn vị tiện
tệ nước này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của nước kia được gọi là tỷ giá hối đoái
(TGHĐ).
Việc áp dụng loại TGHĐ nào, cao hay thấp đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất
nhập khẩu.
Việc phá giá đồng nội tệ hay chính là TGHĐ cao lên sẽ có tác dụng khuyến khích xuất
khẩu, hạn chế nhập khẩu. Ngược lại, TGHĐ thấp sẽ hạn chế xuất khẩu và đẩy mạnh
nhập khẩu.
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp
3/4
Nhân tố cạnh tranh
Cạnh tranh được xem xét theo hai góc độ: cạnh tranh trong nội bộ ngành sản xuất trong
nước và cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài. Trong một thời kỳ, nếu có nhiều doanh
nghiệp cùng nhập khẩu một loại mặt hàng và tiêu thụ ở thị trường nội địa hay nhập khẩu
để sản xuất cùng một loại mặt hàng thì việc cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn tới giá cả,
doanh số bán hàng, ảnh hưởng tới mức tiêu thụ và do đó ảnh hưởng tới kết quả và hiệu
quả kinh doanh. Khi có nhiều nhà nhập khẩu cùng quan tâm đến một loại hàng hoá, giá
nhập khẩu cũng tăng lên làm tăng các khoản chi phí, giảm hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp cùng một lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Các nhà sản xuất nước ngoài khi thâm nhập thị trương nội địa cũng trở thành một đối
thủ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Họ cạnh tranh bằng giá cả, chất lượng, mẫu
mã. uy tín,... khi thu hút được khách hàng về phía mình, các sản phẩm của nước ngoài
làm giảm thị phần của sản phẩm được sản xuất trong nước từ nguyên liệu nhập khẩu, từ
đó làm giảm doanh số bán hàng của các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu.
Nhân tố văn hoá, thị hiếu của mỗi quốc gia
Trên thế giới có nhiều nền văn hoá khác nhau và mỗi quốc gia có một phong tục tập
quán khác nhau. Một quốc gia sẽ nhập khẩu hàng hoá để bổ sung, thay thế cho việc tiêu
dùng hoặc nhập khẩu để tiếp tục sản xuất các loại hàng hoá phù hợp với nhu cầu và
thị hiếu trong một giai đoạn nhất định của dân cư. Việc nghiên cứu văn hoá, thị hiếu
sẽ quyết đinh kết quả bán hàng của các nhà nhập khẩu và quyết định đến hiệu quả hoạt
động nhập khẩu.
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp
4/4
Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016
“Giảm trừ gia cảnh theo quy định của pháp luật hiện hành - thực tế tuân thủ pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh từ tháng 7.2013 và ý kiến pháp lý của cá nhân em về vấn đề này
MỞ
ĐẦU
Nền
kinh tế phát triển dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo và sự khác biệt về nhu cầu
tiêu dùng giữa các cá nhân có thu nhập. Đồng thời sự khác biệt vùng miền (thành
thị và nông thôn) tác động đến mức sống khác nhau của người có thu nhập như
nhau. Do đó quy định về giảm trừ gia cảnh trong luật thuế thu nhập cá nhân phải
phù hợp với thực tế, đảm bảo công bằng và hợp lý trong việc chia sẻ gánh nặng về
thuế đối với cá nhân có thu nhập. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin được giải
quyết bài tập sau: “Giảm trừ gia cảnh
theo quy định của pháp luật hiện hành - thực tế tuân thủ pháp luật thuế về giảm
trừ gia cảnh từ tháng 7.2013 và ý kiến pháp lý của cá nhân em về vấn đề này.”
NỘI DUNG
I, Khái quát về pháp luật thuế về
giảm trừ gia cảnh.
1.Khái niệm và nội dung của Thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là
thuế
trực thu, đánh vào một số khoản thu nhập cao chính đáng được nhận
từ nhiều nguồn khác nhau của cá nhân, nhằm thực hiện chính sách điều
tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã hội về
thu nhập, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
*) Thuế thu nhập cá nhân mang một số
đặc điểm sau:
- Có diện đánh thuế rộng là tất cả các cá nhân có thu nhập
chịu thuế.
- Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với
chính sách xã hội của mỗi quốc gia.
- Việc đánh thuế thu nhập cá nhân
thường áp dụng theo nguyên tắc lũy tiên từng phần.
*) Chủ thể trong quan hệ pháp luật
về thuế thu nhập cá nhân
Quan hệ pháp luật về thuế thu nhập
cá nhân là quan hệ thu, nộp thuế phát sinh giữa nhà nước với các cá nhân có thu
nhập chịu thuế được quy phạm pháp luật thuế thu nhập cá nhân điều chỉnh.
Chủ thể
tham gia quan hệ pháp luật thu nhập cá nhân bao gồm
- Người thu thuế là cơ quan thuế
(Tổng cục thuế trực thuộc Bộ Tài chính
Cục thuế ở cấp tỉnh, thành phố
Chi cục thuế cấp quận, huyện)
- NNT là cá nhân có thu nhập chịu
thuế, bao gồm:
(1)Cá nhân cư
trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam. Cá nhân
cư trú là người đáp ứng một trong các
điều kiện sau đây: (i)Có mặt tại
Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng
liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. (ii) có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở thường
xuyên theo quy định của pháp luật về cư trú; có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo
quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày
trở lên trong năm tính thuế.
(2) Cá nhân
không cư trú có thu nhập chịu thuế phát
sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Cá nhân không cư trú là cá nhân không thỏa mãn
điều kiện để trở thành cá nhân cư trú.
*) Thu nhập chịu thuế TNCN.
Thu nhập của cá nhân
hình thành từ nhiều nguồn thu tạo lập thu nhập khác nhau phụ thuộc vào hành vi
của cá nhân tạo ra nguồn thu nhập đó. Thuế thu nhập cá nhân phải điều tiết hợp
lý đối với các khoản thu nhập của cá nhân, đảm bảo khả năng tái sản xuất lao động
và tích lũy đối với cá nhân có thu nhập. Căn cứ vào tính ổn định của thu nhập,
thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân có thể chia làm hai nhóm:
Thu nhập thường
xuyên là những phần thu nhập mang tính ổn
định đều đặn. Với một cá nhân thì thu nhập thường xuyên có thể hình
thành từ hoạt động kinh doanh hay lao động làm thuê. Thu nhập này được xác định
gồm (1) thu nhập từ kinh doanh (sản
xuất, kinh doanh, hành nghề độc lập) và (2)
thu nhập từ tiền lương tiền công (tiền lương, tiền công, phụ cấp, trợ cấp, thù lao …) Những khoản
thu nhập thường xuyên giữ vai trò
quan trọng đối với sự tồn tại của cá nhân là nguồn thu nhập chính để duy trì cuộc
sống cá nhân có thu nhập và những NPT.
Thu nhập không thường xuyên là những
khoản thu nhập không mang tính ổn định
và đều đặn. Thu nhập không thường xuyên của
cá nhân bao gồm: (1) Thu nhập từ đầu tư vốn;
(2)Thu nhập từ chuyển nhượng vốn; (3) thu nhập từ chuển nhượng bất động sản; (4) Thu nhập từ trúng thưởng; (5)Thu nhập từ bản quyền,
(6) thu nhập từ nhượng quyền thương mại, (7) thu nhập từ nhận thừa kế, (8) thu
nhập từ nhận quà tặng là tài sản.
Những khoản thu nhập này nhằm mục đích phục vụ nhu cầu thiết yếu của cá nhân tạo
lập thu nhập.
*) Căn cứ
tính thuế thu nhập cá nhân: thuế
TNCN được tính căn cứ vào 2 căn cứ: thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế và thuế suất
|
|
Cá nhân cư trú
|
Cá nhân không cư trú
|
|
Thu nhập chịu thuế
|
Phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam
|
Phát sinh tại Việt Nam
|
|
Cách tính
|
Thu nhập tính thuế
|
Thu nhập tính thuế
|
|
Kỳ tính thuế
|
1.theo năm: thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền công,
tiền lương.
2. Theo từng lần phát sinh thu nhập: các khoản thu nhập
còn lại.
3. do cá nhân lựa chọn
|
Theo từng lần phát sinh thu nhập đối với tất cả các khoản thu
nhập chịu thuế
|
2.Khái niệm và đặc điểm về giảm trừ gia cảnh.
Giảm trừ
gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ
kinh doanh, tiền lương, tiền công
của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú.
Giảm
trừ gia cảnh gồm 2 phần sau: thứ nhất là mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế
và thứ hai là mức giảm trừ đối với những người phụ thuộc (NPT). Mức giảm trừ gia cảnh
này được xây dựng trên cơ sở tham chiếu các chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, mức
thu nhập, chi tiêu trung bình của xã hội và tiền lương tối thiểu tại thời điểm
Luật có hiệu lực thi hành đồng thời tham khảo chính
sách và xu thế cải cách thuế TNCN của các nước trong khu vực.
Việc
xác định mức giảm trừ đối với NPT phải tuân theo nguyên tắc: mỗi NPT chỉ được
tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế (NNT) trong năm tính thuế. Trường
hợp có nhiều NNT có chung NPT phải nuôi dưỡng thì phải tự thỏa thuận để đăng ký
giảm trừ gia cảnh vào một NNT.
NPT là người mà đối tượng nộp thuế
có trách nhiệm nuôi dưỡng. Do đó, việc xác định đối tượng phụ thuộc phải dựa
trên những mối quan hệ gắn bó giữa người đó với đối tượng nộp thuế có trách
nhiệm nuôi dưỡng (quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng đang tồn tại, quan hệ
huyết thống).
Theo quy định của pháp luật hiện
hành:
-
Mức giảm
trừ đối với NNT là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu/năm)
-
Mức giảm
trừ đối với mỗi NPT là 3,6 triệu đồng/tháng.
NPT là người mà đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
(i)
Con chưa thành niên; con bị tàn
tật, không có khả năng lao động;
(ii) Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức quy định,
bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc
học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động
hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà NNT
phải trực tiếp nuôi dưỡng.
3.Vai
trò, ý nghĩa của việc quy định giảm trừ gia cảnh trong luật thuế thu nhập cá
nhân.
Giảm trừ gia cảnh được đặt ra để
phân loại nhóm đối tượng và phù hợp với từng cá nhân dựa trên mức thu nhập so
với phần dành cho mức sống bình quân. Mục đích là để hướng đến loại bớt nhóm có
thu nhập tạm gọi là thấp. Việc pháp luật quy định về giảm trừ gia cảnh có ý
nghĩa vô cùng quan trọng và thiết thực. Điều này được thể hiện thông qua những
vai trò của quy định pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh, cụ thể như sau:
Một
là góp phần đảm bảo được mức sống cho cá nhân làm ra thu nhập. Cá nhân trước
khi phải nộp một khoản thu nhập vào ngân sách nhà nước để phục vụ lợi ích công,
lợi ích xã hội thì bản thân cá nhân đó cũng phải đảm bảo được cuộc sống của
chính mình. Đây là biện pháp góp phần tái tạo sức lao động của người chịu thuế
và tạo điều kiện để người lao động có thể tiếp tục lao động với năng suất cao
hơn. Chính vì vậy mà pháp luật thuế thu nhập cá nhân đã quy định cụ thể mức giảm
trừ cho bản thân NNT - mức khởi điểm có thể phải chịu thuế. Việc xác định mức
giảm trừ này là bao nhiêu sẽ phụ thuộc vào quan điểm, ý chí của những nhà lập
pháp, dựa trên các yếu tố liên quan thực trạng nền kinh tế, tình hình lạm phát,
thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người, mức GDP bình quân đầu người,…
Hai
là đảm bảo cuộc sống cho những NPT của đối tượng nộp thuế. Cá nhân làm ra thu
nhập không chỉ phục vụ cho sự tồn tại của chính bản thân họ mà còn phục vụ cho
sự tồn tại của những NPT, những người họ có trách nhiệm nuôi dưỡng (cha, mẹ, vợ/chồng,
con,…). Chỉ khi cuộc sống của những NPT được đảm bảo thì cá nhân đó mới có thể
yên tâm lao động, sản xuất tạo thu nhập. Vì vậy quy định này như một bài thuốc
về tinh thần giải phóng sức lao động của người lao động, động viên, khích lệ
khát vọng làm giàu chính đáng của người lao động.
Ba là
quy định về giảm trừ gia cảnh cho NPT đảm bảo sự công bằng giữa các đối tượng nộp
thuế, góp phần thực hiện mục tiêu điều tiết thu nhập, đảm bảo sự phát triển
toàn diện của nền kinh tế - xã hội. Cá nhân
NNT có trách nhiệm nuôi dưỡng nhiều NPT sẽ được giảm trừ nhiều hơn so với người
độc thân, hay người có trách nhiệm nuôi dưỡng ít NPT hơn.
Ngoài
ra quy định này còn góp phần nâng cao tinh thần đoàn kết, tương trợ giữa các
thành viên trong gia đình, phát huy truyền thống, đạo đức của con người Việt
Nam.
II Giảm trừ gia cảnh theo quy định
của pháp luật hiện hành
Pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh được thể hiện qua các
văn bản pháp luật sau:
Luật thuế
TNCN số 04/2007/QH12;
Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của luật TNCN số 26/2012/QH13;
Nghị định
số 65/2013/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật thuế TNCN
và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN;
Thông tư
111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện luật thuế TNCN, luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của luật thuế TNCN và nghị định số 65/2013/NĐ-CP của chính phủ quy định
chi tiết một số điều của luật thuế TNCN và luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của luật thuế TNCN;
Luật quản
lý thuế năm 2006, sửa đổi năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày
6/11/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày
22/7/2013 của Chính phủ
...
Pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh
đã quy định cụ thể mức giảm trừ gia cảnh, xác định rõ ai là NPT của NNT, các hồ
sơ, thủ tục kê khai giảm trừ đối với NPT.
1.Mức giảm trừ.
Việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cần tính tới chính
sách và lộ trình cải cách tiền lương của nhà nước, tỷ lệ và mức tăng trưởng
kinh tế, mức GDP bình quân đầu người, thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người dự
kiến vào năm Luật có hiệu lực thi hành đồng thời tham khảo chính sách và xu thế cải cách thuế
TNCN của các nước trong khu vực.
*) Vài nét về mức giảm trừ gia cảnh
theo Luật thuế Thu nhập cá nhân năm 2007 số 04/2007/QH12
Luật
thuế TNCN năm 2007 có quy định giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế đối với
thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú (mức
giảm trừ gia cảnh cho bản thân NNT 4 triệu đồng/tháng; cho mỗi NPT là 1,6 triệu
đồng/tháng). Mức giảm trừ gia cảnh này được xây dựng trên cơ sở tham chiếu các chỉ tiêu
GDP bình quân đầu người, mức thu nhập, chi tiêu trung bình của xã hội và tiền
lương tối thiểu tại thời điểm Luật có hiệu lực năm 2009.
Theo
báo cáo tổng kết 3 năm thi hành Luật Thuế TNCN của Bộ Tài chính thì số người có
thu nhập từ tiền lương, tiền công chưa đến mức phải nộp thuế năm 2009 là: 3.613
nghìn người; năm 2010 là: 6.582 nghìn người; năm 2011
là: 8.777 nghìn người
số NNT TNCN tăng nhanh qua các năm. Năm
2011, Số người có thu nhập từ
tiền lương, tiền công nộp thuế ở bậc 1 chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số người
phải nộp thuế (73,3%) nhưng số thuế nộp không lớn so với tổng số thuế thu từ tiền
lương, tiền công (10,0%). Số NNT từ bậc 2 trở lên không lớn (26,7%) nhưng số
thuế nộp chiếm tỷ trọng lớn (90,0%). Do đó, qua việc điều tiết thuế TNCN như
trên đã góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư.
Thực
tế từ năm 2009, do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh
tế - xã hội nước ta gặp nhiều khó khăn, giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng cao làm ảnh
hưởng đến đời sống NNT. Do đó, mức giảm trừ gia
cảnh là 4 triệu đồng/tháng đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay. Thêm
vào đó, để góp phần thực hiện việc giảm tỷ lệ động viên thuế, phí trên GDP theo Chiến lược cải
cách hệ thống thuế đến năm 2020, đảm bảo tính ổn định của chính sách cho giai
đoạn sau năm 2014, đồng thời để có sự quan tâm, chia sẻ của Nhà nước đối với NNT
trước bối cảnh khó khăn của nền kinh tế thì việc
nâng mức giảm trừ gia cảnh là thiết yếu.
*) Mức giảm trừ theo quy định của
pháp luật hiện hành.
Trong bối cảnh hiện nay, khi giá cả
biến động, tình hình kinh tế có tác động không thuận đến đời sống người dân thì
việc tăng mức giảm trừ gia cảnh là hợp lý và cần thiết, góp phần chia sẻ khó
khăn với NNT. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là tăng lên mức bao nhiêu là phù hợp, đảm
bảo cuộc sống của NNT, huy động nguồn lưc, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà
nước, hài hòa lợi ích giữa NNT với lợi ích nhà nước.
Dựa trên sự tham chiếu sự biến động của các yếu tố (Tăng
trưởng kinh tế, GDP bình quân đầu người, Chỉ số CPI, Mức lương tối thiểu áp dụng đối
với khu vực hành chính sự nghiệp,
Thu
nhập, chi tiêu hộ gia đình và mức sống trung bình xã hội, Tham khảo kinh nghiệm quốc tế)
kết hợp với tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Quốc hội khi thông qua Luật thuế
TNCN năm 2007 và để phù hợp với chủ trương giảm dần tỷ lệ động viên về thuế,
phí, lệ phí theo Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011 - 2020 và quan điểm, mục
tiêu, yêu cầu của việc sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNCN lần này, ngày 30/7/2012, Chính
phủ đã trình
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho phép điều chỉnh nâng mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân NNT từ mức 4 triệu đồng/tháng
lên 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm); mức giảm trừ cho mỗi NPT từ
1,6 triệu đồng/tháng lên 3,6 triệu đồng/tháng. Đồng thời bổ sung quy định “mở”
để khi giá cả thị trường biến động trên 20% thì Chính phủ trình Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cho phù hợp với sự biến động của giá
cả.
Sau quá trình thảo luận, tổng kết,
đánh giá ý kiến sâu rộng, tại kỳ họp thứ
5 của Quốc hội khóa XIII ngày 22 tháng 11 năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thuế Thu nhập cá nhân đã được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2013.
Như vậy,
quy định tại Điều 1 Khoản 4 Luật thuế TNCN sửa đổi năm 2012 đã sửa đổi, bổ sung quy định
về giảm trừ gia cảnh tại Khoản 1 Điều 19 Luật thu nhập cá nhân năm 2007, cụ thể như sau:
“1. Giảm trừ
gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh
gồm hai phần sau đây:
a) Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm);
b) Mức giảm trừ đối với mỗi NPT là 3,6 triệu đồng/tháng.
Trường hợp chỉ số giá tiêu dùng (CPI) biến động trên 20% so với thời điểm Luật có hiệu lực thi hành hoặc thời điểm điều chỉnh mức giảm trừ
gia cảnh gần nhất thì Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản
này phù hợp với biến động của
giá cả để áp dụng cho kỳ
tính thuế tiếp theo.”
Như
vậy, Người có thu nhập thấp hơn mức giảm trừ gia cảnh thì chưa phải nộp thuế.
Người có thu nhập cao hơn mức giảm trừ gia cảnh phải nộp thuế theo biểu thuế luỹ
tiến từng phần gồm 7 bậc (5%; 10%; 15%; 20%; 25%; 30%; 35%). Theo đó, người độc
thân có thu nhập 9 triệu đồng/tháng chưa phải nộp thuế, người có 2 NPT có thu
nhập từ 16,2 triệu đồng/tháng trở xuống chưa phải nộp thuế; người có thu nhập
20 triệu đồng/tháng nếu có 1 NPT chỉ nộp thuế 490 nghìn đồng/tháng (bằng 2,45%
thu nhập chịu thuế), phần thu nhập của cá nhân sau khi nộp thuế là 19,51 triệu
đồng; tương tự, nếu có 2 NPT thì số thuế nộp chỉ 190 nghìn đồng/tháng (bằng
0,95% thu nhập chịu thuế) và phần thu nhập sau khi nộp thuế là 19,81 triệu đồng.
[1]
Để đảm bảo việc điều chỉnh
mức giảm trừ gia cảnh được kịp thời, Luật sửa đổi, bổ
sung luật thuế thu nhập cá nhân năm 2012 đã
quy định khi giá cả thị trường biến động trên 20% thì Chính phủ trình Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cho phù hợp với sự biến động của
giá cả. Giá cả hàng hóa dịch vụ tăng cao sẽ làm giảm thu nhập thực tế của
NNT cũng
như sức mua tương đương của mức giảm trừ gia cảnh và ảnh hưởng tới đời sống của
NNT, theo đó cần có sự điều chỉnh cho
phù hợp trong trường hợp chỉ số giá có sự biến động lớn. Việc điều chỉnh mức giảm trừ
theo tốc độ tăng giá cũng là phương thức
cũng được một số nước trên thế giới áp dụng. Theo dự báo về kinh tế
vĩ mô thì mức giảm trừ gia cảnh có thể phải thực hiện điều chỉnh khoảng 3 năm một lần. Việc điều chỉnh này tuy có phát
sinh một số thủ tục trong quá trình
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nhưng cũng có mặt
tích cực là tính tới yếu tố lạm phát, đảm bảo sức mua của mức giảm trừ gia cảnh,
phù hợp với thực tiễn.
Với mức giảm trừ
gia cảnh này, mức điều tiết thuế được giảm ở tất cả các bậc, 100% NNT ở bậc 1
hiện nay sẽ chuyển sang diện không phải nộp thuế, 72% số NNT đang nộp ở bậc 2 sẽ
được chuyển sang nộp thuế ở bậc 1, tương tự mức điều tiết giảm ở tất cả các bậc
còn lại;[2]
2.Nguyên tắc tính
giảm trừ gia cảnh.
Theo hướng dẫn thi hành tại Điều 12 Nghị định 65/2013/NĐ-CP,
cụ thể chi tiết tại điểm c khoản 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC thì nguyên tắc tính
giảm trừ gia cảnh được xác định như sau:
(1)Đối với bản thân NNT
- NNT có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ
kinh doanh thì tại một thời điểm (tính đủ theo tháng), NNT phải lựa chọn tính
giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi.
- Đối với cá nhân nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam
được giảm trừ gia cảnh cho bản thân từ tháng 1 hoặc từ tháng đến Việt Nam trong
trường hợp cá nhân lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồng
lao động và rời Việt Nam trong năm tính thuế (được tính đủ theo tháng).
- Trường hợp trong năm tính thuế
cá nhân chưa giảm trừ cho bản thân hoặc giảm trừ cho bản thân chưa đủ 12 tháng
thì được giảm trừ đủ 12 tháng khi thực hiện quyết toán thuế theo quy định.
(2)Đối với NPT:
- NNT được tính giảm trừ gia cảnh cho NPT nếu NNT
đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế.
- Khi NNT
đăng ký giảm trừ gia cảnh cho NPT sẽ được cơ quan thuế cấp mã số thuế cho NPT
và được tạm tính giảm trừ gia cảnh trong năm kể từ khi đăng ký. Đối với NPT đã
được đăng ký giảm trừ gia cảnh trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì
tiếp tục được giảm trừ gia cảnh cho đến khi được cấp mã số thuế.
- Trường hợp NNT
chưa tính giảm trừ gia cảnh cho NPT trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ
cho NPT kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi NNT thực hiện
quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho NPT. Riêng đối với NPT khác
theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1, Điều này thời hạn đăng ký giảm
trừ gia cảnh chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế,
quá thời hạn nêu trên thì không được tính giảm trừ gia cảnh cho năm tính thuế
đó.
- Mỗi NPT chỉ được tính giảm trừ một lần vào
một NNT trong năm tính thuế. Trường hợp nhiều NNT có chung NPT phải nuôi dưỡng
thì NNT tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một NNT.
3.Quy định về người phụ thuộc
NPT là người mà đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng.
Đối tượng và căn cứ xác định NPT mà NNT có trách nhiệm nuôi dưỡng được quy định
tại Điều 12 Nghị định 65/2013/NĐ-CP và hướng dẫn cụ thể chi tiết tại điểm d,
khoản 1 điều 19 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Theo đó, NPT bao gồm:
Nhóm (1): NPT là
con mà NNT phải có trách nhiệm nuôi dưỡng. Xuất phát từ một trong những
nguyên tắc cơ bản về chế độ hôn nhân và gia đình là Nhà nước và
xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con
gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú. Thêm vào đó là
mối quan hệ giữa cha mẹ và con đã được luật hóa tại Chương 4 của Luật hôn nhân
và gia đình. Vì vậy, không phụ thuộc vào đối
tượng con của NNT là con trai hay con gái, con đẻ hay con nuôi, con trong giá
thú hay con ngòai giá thú, là con riêng của vợ, con riêng của chồng thì đều được xác định là NPT của NNT. Do vậy,
pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh quy định NPT là con gồm: con đẻ, con nuôi
hợp pháp, con ngoài giá thú, con riêng của vợ, con riêng của chồng, cụ thể như
sau:
- Con dưới 18 tuổi (tính đủ theo tháng) –
con chưa thành niên. Theo quy định tại Điều 34, 36, 37 và 38 Luật hôn nhân gia
đình thì Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ chăm sóc và nuôi dưỡng con chưa thành
niên. Đây là đối tượng chưa phát triển toàn diện về thể chất cũng như nhân
cách. Vì vậy cha mẹ phải có trách nhiệm thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng và
giáo dục con để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo
đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. Ví dụ: Con ông A sinh ngày 7 tháng 7 năm 2014 thì
được tính là NPT từ tháng 7 năm 2014
- Con từ 18
tuổi trở lên bị khuyết tật, không có khả năng lao động. Đây là đối tượng không
thể tự mình nuôi sống bản thân. Theo đó, cha mẹ với tư cách là những người đã
sinh thành ra họ, đã xác định trách nhiệm nuôi dưỡng với họ (trong trường hợp
là con nuôi) hay trở thành cha dượng, mẹ kế của họ thì đều phải có nghĩa vụ chăm
sóc, nuôi dưỡng họ. Ví dụ, ông A (50 tuổi) có người con (anh B-25 tuổi) bị
nhiễm chất độc màu da cam nên từ nhỏ mắt đã không nhìn thấy gì, các chi không
phát triển nên không có khả năng di chuyển, lại còn hay lên cơn co giật. Ông A
phải trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, thuốc men chữa trị cho con. Do đó, anh B
được xác định là NPT của ông A.
- Con đang
theo học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại bậc học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18
tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông (tính cả trong thời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp
12) không có thu nhập hoặc có thu nhập bình
quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000
đồng. Pháp luật về giảm trừ gia cảnh xác định đối tượng này là NPT xuất phát từ
chính sách khuyến học, định hướng nghề nghiệp cho cá nhân mới bắt đầu tuổi
thành niên, đang còn đi học, không có đủ khả năng tạo thu nhập để nuôi sống bản
thân, vẫn cần được sự chu cấp, nuôi dưỡng từ cha mẹ. Do vậy, cha mẹ sẽ được
giảm trừ gia cảnh cho con thuộc trường hợp này. Ví dụ, bạn Dương hiện đang là
sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội không có thu nhập được bố mẹ chăm sóc,
nuôi dưỡng, theo đó: Dương được xác định là NPT của bố hoặc mẹ.
Nhóm (2): Vợ
hoặc chồng của NNT đáp ứng điều kiện (*)
dưới đây. Dựa trên quan hệ hôn nhân giữa vợ với chồng phải thương yêu, chăm sóc
lẫn nhau, trong trường hợp vợ/chồng vẫn trong độ tuổi lao động nhưng bị khuyết
tật, không có khả năng lao động hay không có thu nhập/có thu nhập bình quân
hàng tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1 triệu đồng
thì chồng/vợ phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, đảm bảo cuộc sống cho vợ/chồng của
mình hoặc trong trường hợp vợ/chồng đã ngoài độ tuổi lao động và không có thu
nhập/có thu nhập bình quân tháng trong năm không vượt quá 1 triệu đồng. Theo
đó, người nộp phải dành một khoản thu nhập của mình chăm sóc, nuôi dưỡng
vợ/chồng của mình. Do vậy, vợ/chồng của NNT đáp ứng điều kiện (*) sẽ được xác
định là NPT của NNT. Ví dụ, anh A có vợ là chị B bị tai biến mạch máu não nên
phải nằm liệt giường, không có khả năng lao động, không có thu nhập. Anh A phải
chăm sóc, nuôi dưỡng chị B, do đó, chị B là NPT của anh A.
Nhóm (3): Cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha
dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp của NNT đáp ứng điều kiện (*). Cha mẹ (không phân biệt cha/mẹ đẻ, cha/mẹ vợ, cha/mẹ
kế, cha/mẹ nuôi của NNT ) nếu trong độ tuổi lao động mà bị tàn tật, không có
khả năng lao động hay không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong
năm không vượt quá 1 triệu đồng hoặc ngoài độ tuổi lao động và không có thu
nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm không vượt quá 1 triệu đồng thì
được xác định là NPT của NNT. Đây là đối tượng mà NNT phải dành một khoản thu
nhập để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng khi cha mẹ mình không thể tự
nuôi sống bản thân. Ví dụ, bố đẻ của anh A bị đột quỵ, nằm liệt giường, không
có thu nhập, anh A phải chăm sóc, phụng dưỡng bố mình, theo đó, bố anh được xác
định là NPT của anh A.
Nhóm (4):
Các cá nhân khác không nơi nương tựa mà NNT đang phải trực tiếp nuôi dưỡng và
đáp ứng điều kiện (*), bao gồm
- Anh ruột,
chị ruột, em ruột của NNT.
- Ông nội,
bà nội; ông ngoại, bà ngoại; cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột của
NNT.
- Cháu ruột
của NNT bao gồm: con của anh ruột, chị ruột, em ruột.
- Người phải
trực tiếp nuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật.
Quy
định này xuất phát từ mối quan hệ giữa ông bà nội, ông/bà ngoại và cháu; giữa
anh, chị, em và giữa các thành viên trong gia đình được luật hôn nhân gia đình
điều chỉnh. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia
đình chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của
gia đình Việt Nam. Do vậy khi NNT đang trực tiếp nuôi dưỡng người thuộc trường
hợp này sẽ được giảm trừ gia cảnh.
Cá nhân được tính là NPT rơi
vào các trường hợp của nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4 thì phải đáp ứng các điều kiện(*) sau:
(i)Đối với người trong độ tuổi lao động phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
- Bị khuyết tật, không có khả
năng lao động. Người khuyết tật, không có khả năng lao động là những người thuộc đối
tượng điều chỉnh của pháp luật về người khuyết tật, người mắc bệnh không có khả
năng lao động (như bệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn,...).
- Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.
(ii) Đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình
quân tháng trong năm từ tất cả
các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.
Mức thu nhập 1 triệu đồng/tháng được cho là mức thu nhập đảm
bảo mức sống tối thiểu trong điều kiện hiện nay.
4. Kê khai đối tượng phụ thuộc và trình tự thủ tục xem xét
giảm trừ gia cảnh
Nguyên tắc
khai thuế: NNT phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai
thuế với cơ quan thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các chứng từ,
tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế.
Cơ chế thực hiện: tự khai – tự tính – tự nộp. Đây là
phương thức quản lý thuế mới được xây dựng trên nền tảng sự tuân thủ của người
nộp thuế.
NNT có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, từ tiền
công từ 9 triệu đồng/tháng thì không phải khai NPT. Quy định nhằm tránh tình trạng kê khai tràn lan làm tăng số lượng NPT
đăng ký giảm trừ gia cảnh không cần thiết gây khó khăn trong công tác quản lý,
theo dõi hồ sơ giữa cơ quan thuế với tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập.
NNT có thu nhập
từ kinh doanh, tiền lương, tiền công trên 9 triệu đồng/tháng: Để được giảm trừ
gia cảnh cho NPT phải làm bản đăng ký NPT và nộp hồ sơ chứng minh NPT.
Trình tự, thủ
tục kê khai giảm trừ gia cảnh đối với NPT được quy định chi tiết tại thông tư
111/2013/TT-BTC và các văn bản hướng dẫn về quản lý thuế. Người nộp thuế cần
nắm rõ và tuân thủ các quy định này để được giảm trừ gia cảnh khi quyết toán
thuế thu nhập cá nhân.
Cụ thể như sau:
(1)Đối với NNT có thu nhập từ tiền lương, tiền công.
(i) nộp bản
đăng ký NPT.
- Trường hợp đăng ký NPT
lần đầu:
+ NNT đăng ký NPT theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp hai (02) bản cho tổ chức, cá nhân trả
thu nhập để làm căn cứ tính giảm trừ cho NPT.
+ Tổ chức, cá nhân trả thu nhập lưu giữ một (01) bản đăng ký và nộp một (01) bản đăng ký cho cơ quan thuế
trực tiếp quản lý cùng thời điểm nộp tờ khai thuế thu nhập cá nhân của kỳ
khai thuế đó theo quy định của luật quản lý thuế.
+Đối với cá nhân
trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế thì cá nhân nộp một (01) bản đăng ký NPT cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý tổ chức trả thu nhập cùng thời điểm
nộp tờ khai thuế thu nhập cá nhân của kỳ khai thuế đó theo quy định của Luật
Quản lý thuế.
- Trong trường hợp đăng ký thay đổi về NPT: NNT khai bổ sung
thông tin thay đổi của NPT theo mẫu và nộp cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập hoặc cơ quan thuế đối với NNT thuộc diện khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế.
(ii) Nộp hồ sơ chứng minh NPT. Tùy từng đối tượng phụ thuộc mà NNT phải chuẩn bị các loại giấy tờ để
chứng minh đối tượng đó là NPT của mình. Hồ sơ chứng minh NPT được quy định cụ
thể, chi tiết tại điểm g, khoản 1 điều 9 thông tư 111/2013/TT-BTC.
Một điểm mà NNT phải chú ý là về địa điểm, thời hạn nộp hồ sơ chứng minh NPT:
- Địa điểm: nơi NNT nộp bản đăng ký NPT. Tổ chức trả thu nhập có
trách nhiệm lưu giữ hồ sơ chứng minh NPT và xuất trình khi cơ quan thuế thanh
tra, kiểm tra thuế.
- Thời hạn nộp
hồ sơ chứng minh NPT: trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp tờ khai đăng ký NPT
(bao gồm cả trường hợp đăng ký thay đổi NPT).
(2)Đối với NNT có thu nhập từ kinh doanh
(i) nộp bản đăng ký NPT
- Cá nhân
kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê
khai đăng ký NPT theo mẫu và nộp
cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý
cùng với tờ khai tạm nộp thuế. Khi có
thay đổi (tăng, giảm) về NPT, NNT thực hiện khai bổ sung thông tin thay đổi của NPT
theo mẫu và nộp cơ quan thuế trực tiếp
quản lý.
- Cá nhân
kinh doanh nộp thuế theo phương pháp
khoán khai giảm trừ gia cảnh cho NPT theo tờ khai thuế khoán.
(ii) Nộp hồ sơ chứng minh NPT
Hồ sơ chứng
minh NPT theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Thời hạn nộp hồ sơ
chứng minh NPT: 3 tháng kể từ ngày khai giảm trừ gia cảnh (bao gồm cả
trường hợp phát sinh tăng, giảm NPT hoặc
mới ra kinh doanh).
5. Quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ
pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh.
Quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật thuế nói chung và pháp luật
thuế về giảm trừ gia cảnh nói riêng được quy định cụ thể tại Luật quản lý Thuế
năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các chủ thể trong quan hệ pháp luật
thuế bao gồm NNT và cơ quan thuế.
*) NNT có
các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau:
(1) Quyền của NNT:
Việc
luật quản lý thuế quy định quyền cơ bản của NNT, đảm bảo cho chủ thể này khi
tham gia vào quan hệ pháp luật quản lí thuế không chỉ dưới góc độ người phải thực
hiện nghĩa vụ như trước đây. Điều này giúp hài hòa mối quan hệ giữa NNT với cơ
quan thuế, phát huy tối đa tính dân chủ, phát huy tinh thần tự giác, tự nguyện,
chủ động nộp thuế của NNT. Cụ thể như sau:
-
NNT có quyền được hướng dẫn thực hiện việc nộp thuế, cung cấp thông tin để thực
hiện nghĩa vụ, quyền lợi về thuế. Khi đến cơ quan thuế giải quyết các yêu cầu
thủ tục về thuế, NNT tiếp xúc trực tiếp với cán bộ thuế tại bộ phận một cửa để
được hướng dẫn thực hiện việc kê khai, nộp các hồ sơ yêu cầu và nhận kết quả giải
quyết mọi giao dịch.
-
NNT có quyền ký hợp đồng vói tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế. Đây
là một trong những quyền hoàn toàn mới của NNT. Thực tế cho thấy, quy định NNT
có quyền ký hợp đồng với tổ chức hoạt động dịch vụ tư vấn thuế đảm bảo chung
cho những đối tượng nộp thuế dù không có những hiểu biết và thành thạo trong
các nghiệp vụ về thuế vẫn thực hiện nghĩa vụ kê khai quyết toán thuế đồng thời
giảm bớt một phần gánh nặng cho cơ quan quản lý trong việc hướng dẫn NNT trong
quá trình kê khai quyết toán thuế, nâng cao tính tự giác trong quá trình quản
lý thuế của một bên chủ thể tham gia.
-
NNT có quyền được bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản
lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật. Khi cơ quan quản lý thuế ra quyết định
phạt không đúng, hoặc quyết định thu sai thì NNT có quyền khiếu nại quyết định
xử lý của cơ quan này lên cơ quan cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền. Đây là
quy định thể hiện rõ tính dân chủ của pháp luật thuế và đảm bảo niềm tin cho NNT
đối với hành vi của cán bộ công chức thuế. Từ đó, đối tượng nộp thuế sẽ nghiêm
túc hơn trong việc tính đúng, tính đủ số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước.
-
NNT có quyền yêu cầu cơ quan quản lý thuế xác nhận nghĩa vụ nộp thuế của mình. Khi
thực hiện cơ chế tự khai – tự tính – tự nộp, NNT tự xác định số thuế phải nộp
căn cứ vào những quy định của luật thuế, tự kê khai thuế theo mẫu tờ khai quy định
và chủ động nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước theo số đã kê khai đầy đủ và
đúng hạn. Cơ quan quản lý thuế khi nhận tờ khai của NNT thì có trách nhiệm ghi
nhân toàn bộ các thông tin trên tờ khai thuế cùng với nghĩa vụ nộp thuế phải nộp
của NNT để theo dõi việc nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước. Vì vậy, bên chủ
thể này có quyền yêu cầu cơ quan thuế xác nhận việc đã thực hiện nghĩa vụ nộp
thuế của mình nhằm thể hiện tính minh bạch, công khai trong quá trình thực hiện.
Một là,
NNT có nghĩa vụ khai thuế chính xác, trung thực đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng
thời hạn, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực đầy đủ
của hồ sơ thuế.
Hai là,
NNT có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ thông tin cho cơ quan quản lí thuế. Nghĩa vụ này
của NNT được thực hiện khi cơ quan quản lí thuế tiến hành thanh tra thuế tại trụ
sở của NNT hoặc khi cơ quan quản lí thuế phát hiện NNT có những vi phạm pháp luật
thuế cần kiểm tra, xác minh.
*)
quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thuế
(1) Về quyền của cơ quan thuế:
-
Quyền yêu cầu NNT và các tổ chức, cá nhân có liên quan cũng cấp thông tin, tài
liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của NNT
- Cơ
quan quản lí thuế có quyền thanh tra kiểm tra thuế. Việc kiểm tra thanh tra thuế
được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT, đánh
giá việc chấp hành pháp luật của NNT và có quy trình rõ ràng khi cơ quan quản
lí thuế thực hiện quyền này.
-
cơ quan quản lí thuế có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn pháp luật
về thuế; giải thích, cung cấp các thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ
thuế cho NNT.
- cơ
quan quản lí thuế có trách nhiệm tổ chức xây dựng và quản lí cơ sở dữ liệu hạ tầng
của hệ thống thông tin về NNT. Cụ thể trách nhiệm của cơ quan quản lí thuế
trong xây dựng hệ thống thông tin NNT bao gồm: xây dựng hệ thống các chỉ tiêu
thông tin, cơ sở dữ liệu cần thu thập từ NNT, từ cơ quan quản lí thuế từ bên thứ
ba; chuẩn hóa mẫu biểu thu thập thông tin, thống nhất mẫu biểu với các tổ chức
cá nhân cung cấp thông tin hoặc thu thập thông tin theo định dạng sẵn có của tổ
chức, cá nhân cung cấp thông tin; xây dựng, phát triển hệ thống hạ tầng kĩ thuật
đáp ứng yêu cầu thu thập, xử lí, lưu trữ, truyền tải, khai thác xử dụng, kiểm
soát thông tin trong cơ quan quản lí thuế.
- trong
quá trình sử dụng thông tin về NNT, cơ quan quản lí thuế phải tuân thủ chế độ bảo
mật thông tin về NNT
Ngoài
ra luật quản lý thuế cũng đề cập tới trách nhiệm của các cơ quan có liên quan
như: Cơ quan thông tin, báo chí có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chính
sách, pháp luật thuế và phản ánh, phê phán các hành vi vi phạm phát luật thuế. Các
cơ quan quản lí nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ quản lí ngành có trách nhiệm
cung cấp thông tin liên quan đến NNT có cơ quan quản lí thuế hoặc phối hợp với
cơ quan quản lí thuế thực hiện cưỡng chế thuế, xử lí nghiêm các trường hợp vi
phạm pháp luật thuế.
III. Thực tế tuân thủ pháp luật thuế
về giảm trừ gia cảnh từ tháng 7 năm 2013
Luật sửa
đổi bổ sung luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2013.
Các quy định được coi là bất cập, còn hạn chế đã được sửa đổi, bổ sung. Một
trong những điểm mới của luật này là quy định về giảm trừ gia cảnh. Các nhà làm
luật đã cố gắng sửa đổi, bổ sung các quy định về giảm trừ gia cảnh theo hướng
có lợi cho NNT, hài hòa lợi ích nhà nước và NNT. Quy định là như vậy nhưng có
thực hiện được mục đích đó hay không lại phụ thuộc vào việc tuân thủ pháp luật
của các chủ thể liên quan mà chủ yếu là cơ quan thuế và người nộp thuế.
Năm 2013 là giai đoạn chuyển đổi về chính sách, theo
đó từ ngày 1/7 các quy định về mức giảm trừ gia cảnh thay đổi. Trên cơ
sở đó, kỳ quyết toán thuế 2013 sẽ áp dụng
2 mức giảm trừ gia cảnh tùy vào từng giai đoạn và thực hiện căn cứ vào các
văn bản pháp luật cũng rất đặc biệt (những
thu nhập phải chịu thuế phát sinh từ ngày 1/7/2013 trở về sau sẽ áp dụng các
quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2012 để tính; những thu nhập phải
chịu thuế thu nhập cá nhân phát sinh trước ngày 1/7/2013 sẽ áp dụng Luật Thuế
thu nhập cá nhân năm 2007..) Do đó, để xem xét
về việc tuân thủ pháp luật thuế nói chung và pháp luật về giảm trừ gia cảnh nói
riêng, em xin tìm hiểu thực tế tuân thủ pháp luật trong kỳ tính thuế 2013.
1.Cơ quan thuế.
Kỳ tính thuế năm nay có nhiều chính sách thay đổi về thuế thu
nhập cá nhân, đặc biệt là quy định mới về giảm trừ gia cảnh. Chính vì vậy, để
áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân trong kỳ
tính thuế 2013, Tổng cục thuế đã gửi Công văn 336/TCT-TNCN hướng dẫn quyết toán thuế
năm 2013 tới cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Theo đó, Các khoản giảm trừ gia cảnh để xác
định thu nhập chịu thuế thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 3, mục I, phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của
Bộ Tài chính; Điều 2 Thông tư số
62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính; khoản 1, Điều 9 Thông tư số
111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.
Tổng cục Thuế liên tiếp tổ chức tập huấn nội dung các luật
thuế mới đặc biệt là việc hướng dẫn
quyết toán thuế TNCN năm 2013 (đợt 1 từ 18 - 20/2 và đợt 2: từ 25 - 27/2) nhằm
trang bị đầy đủ kiến thức mới để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý cho Cán bộ,
công chức.
Ngay khi Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế TNCN có hiệu lực thi
hành, ngành thuế đã thực hiện ngay việc nâng cấp các ứng dụng tin học nhằm đáp
ứng tốt yêu cầu quản lý, nhất là các ứng dụng kê khai, nộp thuế phục vụ kỳ
quyết toán thuế TNCN năm 2013. Xác định sẽ có nhiều thay đổi về quy trình, thủ
tục kê khai nộp thuế, nên để kịp thời triển khai thông suốt các ứng dụng quản
lý thuế mới nhất, Cục Thuế Hà Nội đã thành lập Tổ chỉ đạo tiến hành nâng cấp
rất nhiều phần mềm, gói hỗ trợ ứng dụng có liên quan.
Theo
đó, hệ thống cơ quan thuế đã chủ động, tích cực tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn
pháp luật về thuế; giải thích, cung cấp các thông tin liên quan đến việc xác định
nghĩa vụ thuế cho NNT, đẩy mạnh công tác tổ chức xây dựng và quản lí cơ sở dữ
liệu hạ tầng của hệ thống thông tin về NNT.
Tiêu
biểu là Cục thuế Hà Nội
Để kỳ quyết toán thuế 2013 được thực hiện chính xác, đầy đủ và
kịp thời, Cục Thuế Hà Nội đã chủ động chuẩn bị những điều về kiện cơ sở vật
chất và nhân lực nhằm hỗ trợ tốt nhất cho người nộp thuế.
- Để giúp các tổ chức,
cá nhân nộp thuế cập nhật và áp dụng ngay những quy định mới, Cục Thuế TP Hà
Nội đã hệ thống hóa lại các nội dung cơ bản nhất của các văn bản đã được điều
chỉnh, sửa đổi, bổ sung và chuyển tải đến người nộp thuế dưới nhiều hình thức.
Cục Thuế TP Hà Nội cũng đã soạn thảo nhiều tài liệu giúp NNT tải các file dữ
liệu phục vụ cho công tác quyết toán thuế.
- Cán bộ làm việc trực tiếp tại bộ phận một cửa của cơ quan
thuế các cấp và cán bộ kiểm tra, tiếp nhận hồ sơ quyết toán thuế cũng được Cục
Thuế đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để hướng dẫn, hỗ trợ kịp
thời cho NNT.
- Bên cạnh đó, Cục Thuế đã chủ động tuyên truyền trên hệ thống
phương tiện truyền thông đại chúng các nội dung có liên quan đến công tác quyết
toán thuế để đảm bảo việc thực hiện được chính xác, kịp thời, đồng thời khuyến
cáo cá nhân đi nộp thuế sớm, tránh nộp vào những ngày cao điểm có thể phải chờ
đợi.
- Về cơ sở vật chất, trong tháng cao điểm (tháng 3) của kỳ
quyết toán thuế 2013, ngoài việc bổ sung nhân sự và dựng thêm một nhà khung di
động lớn với 18 bàn làm việc đầy đủ trang thiết bị, cơ quan thuế còn bố trí
thêm 5 bàn làm việc chuyên để giải đáp vướng mắc cho DN. Tại các chi cục thuế
quận, huyện, thị xã, Cục Thuế cũng đã yêu cầu tùy theo điều kiện từng địa bàn,
có thể sử dụng ngay trụ sở của mình hoặc đi thuê ở các địa điểm khác với mục
tiêu cao nhất là đảm bảo công tác tiếp nhận quyết toán cho người nộp thuế một
cách đầy đủ, nhanh chóng
- Trong quá trình thực hiện nếu gặp vướng mắc, NNT có thể liên
hệ với cán bộ, phòng quản lý DN trên địa bàn hoặc yêu cầu cơ quan thuế cử cán
bộ trực tiếp đến hỗ trợ.
- Để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NNT, trong tháng 3 cơ
quan thuế sẽ làm việc tất cả các ngày thứ 7 trong tuần, riêng ngày chủ nhật
30/3, từ Cục Thuế đến các chi cục thuế sẽ tổ chức làm việc cả ngày để đảm bảo
có thể tiếp nhận đầy đủ hồ sơ của NNT.
Thông qua các buổi tập huấn, trao đổi, đối thoại với NNT cũng
như các hòm thư điện tử, trang web của cơ quan thuế cũng như các phương tiện
truyền thông thì nhiều câu hỏi, thắc mắc về việc thực hiên quyết toán thuế TNCN
của NNT đã được giải đáp thỏa mãn. Có câu hỏi trực tiếp đến hoàn cảnh, điều
kiện của từng cá nhân NNT đã được Cán bộ thuế trả lời chi tiết: Trần Thị
Thúy Hằng, 36 tuổi, hangttt@...hỏi: Các năm trước tôi có đăng ký với cơ quan
thuế theo mẫu số 16/ĐK-TNCN (ban hành kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày
28/2/2011 của Bộ Tài chính) cho hai con ruột và hàng năm đã quyết toán với cơ
quan thuế. Tuy nhiên đến tháng 4/2013 tôi chuyển sang đơn vị khác và cơ quan
mới đã sót không đăng ký cho tôi. Vậy khi làm quyết toán thuế tôi có được tiếp
tục khấu trừ NPT như đã đăng ký với cơ quan thuế hay không? Hồ sơ quyết toán
phải bổ sung gì? Cán bộ thuế Bùi
Nam Trung: Theo hướng dẫn tại thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ
Tài chính, trường hợp người nộp thuế thay đổi nơi làm việc thì thực hiện đăng
ký và nộp hồ sơ chứng minh NPT như trường hợp đăng ký NPT lần đầu.
Có câu hỏi liên quan đến chính sách thuế mới của kỳ quyết toán
năm nay mà nhiều NNT có thể tham khảo như chị Vũ Thi Thanh Nga, 31 tuổi, nhân
viên đại lý Thuế hỏi “NNT phải lưu ý
những điểm gì trong quy định mới về giảm trừ gia cảnh trong kỳ quyết toán năm
nay”
Đáp: NNT cần chú ý:
Thứ nhất, Ngày
31/03/2014 là hạn cuối cùng nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN, ngay sau ngày 31/3,
cơ quan quản lý sẽ xử phạt ngay đối với các trường hợp vi phạm thay vì cho thêm
4-5 ngày để đôn đốc, nhắc nhở như những năm trước.
Thứ hai, Người nộp thuế được tính giảm trừ gia cảnh cho NPT nếu NNT
đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế.
Thứ ba, theo hướng
dẫn của công văn 336/TCT-TNCN thì
(1) Trường hợp người nộp thuế đăng ký giảm trừ NPT sau thời điểm
thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng tại Mẫu số 16/ĐK-TNCN khai “thời
điểm tính giảm trừ” đúng với thời điểm thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng
thì khi quyết toán thuế TNCN được tính lại theo thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi
dưỡng mà không phải đăng ký lại.
(2)Trường hợp người nộp thuế đăng ký giảm trừ NPT sau thời điểm
thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng và tại Mẫu số 16/ĐK-TNCN khai “thời điểm
tính giảm trừ” sau thời điểm thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng, nếu cá nhân
thuộc diện phải quyết toán thuế thì khi quyết toán thuế để được tính lại theo
thực tế phát sinh, cá nhân đăng ký lại tại Mẫu số 16/ĐK-TNCN ban hành kèm theo
Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính và gửi kèm theo hồ
sơ quyết toán thuế.
(3)Trường hợp người nộp thuế có phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng đối
với NPT khác hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1 Điều 9 Thông tư số
111/2013/TT-BTC(như: anh, chị, em ruột; ông, bà nội ngoại; cô, dì…) thì thời hạn đăng ký giảm trừ gia cảnh chậm nhất
là ngày 31/12/2013, nếu đăng ký giảm
trừ gia cảnh quá thời hạn nêu trên người nộp thuế không được giảm trừ gia cảnh
đối với NPT đó cho năm 2013.
Tuy nhiên vẫn có những người dân băn khoăn, phàn nàn: phải kể
đến trường hợp của chị Hải, kế toán trưởng công ty Thiên Sư Việt Nam-chi nhánh
Hà Nội: “năm vừa qua ngành thuế có rất nhiều chính sách thay đổi mà về phía DN,
khi đọc các văn bản vẫn còn vướng mắc dù đã được tập huấn. Cá nhân tôi có đặt
nhiều câu hỏi đến phòng chính sách của cục thuế Hà Nội, nhưng họ cũng gặp rất
nhiều lúng túng khi trả lời các chính sách này”
Chị B - nhân viên kế toán của
Tập đoàn Sáng tạo tự nhiên, cho biết mình phải sửa lại thông tin giảm trừ gia
cảnh trong hồ sơ quyết toán vì khi tập huấn không được chỉ rõ. Trước đó, chị
làm việc tại quận Cầu Giấy thông tin giảm trừ gia cảnh đăng ký ở đây, giờ
chuyển sang quận Ba Đình khi tập huấn được hướng dẫn bổ sung ngay thông tin
giảm trừ gia cảnh tại nơi mới chuyển đến. Tuy nhiên, cán bộ thuế Ba Đình lại yêu
cầu tách ra, không cần bổ sung: “Giờ tôi lại phải về khai lại, tách riêng thông
tin giảm trừ tại quận cũ và quận mới. Tập huấn hướng dẫn một cách, khi đi làm
thủ tục lại phải làm cách khác làm mất thời gian của người nộp quá”, chị B. băn
khoăn.
2.Đối với chủ thể là NNT.
Trong kỳ quyết toán 2013, người nộp
thuế đã chủ động tìm hiểu thông tin liên quan việc quyết toán thuế thu nhập cá
nhân và đặc biệt quan tâm tới hồ sơ, thủ tục kê khai giảm trừ gia cảnh cho NPT.
Để tránh hiện tượng ùn tắc, giải quyết nhanh gọn, tránh nhầm lẫn, sai sót trong
khi đi quyết toán thuế TNCN , thêm vào đó là để không bị xử lý vi phạm do thực
hiện chậm nghĩa vụ nộp thuế, NNT đã có tâm lý chủ động đi nộp thuế sớm hơn.
Tuy
nhiên, dù cơ quan thuế đã nỗ lực tuyên truyền, hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất cho
người nộp thuế quyết toán thuế nhưng trong suốt
tháng 1 và tháng 2, bình quân mỗi ngày cơ quan thuế chỉ tiếp nhận 5 - 8 bộ hồ
sơ quyết toán; thậm chí đến ngày 24/3 mới tiếp nhận được 25.000 DN hồ sơ, chiếm
tỷ trọng 25% số người nộp thuế trong diện phải thực hiện nghĩa vụ, đồng nghĩa
trong khoảng thời gian 6 ngày còn lại, cơ quan thuế phải tiếp nhận hồ sơ cho
75% số hồ sơ còn lại. Đến sáng ngày 31/3, người nộp thuế vẫn chưa đến ngay, mà
phải sau 15 giờ cùng ngày mới ùn ùn kéo đến nộp quyết toán. Cuối ngày 31/3,
trong bối cảnh người đến nộp quyết toán thuế xếp nhiều hàng dài từ nơi tiếp nhận
hồ sơ cho đến tận cổng cơ quan (khoảng 50 mét) với ước tính cả nghìn người,
trong khi gần 30 bàn tiếp nhận hồ sơ và 5 bàn làm việc được Cục Thuế bố trí
thêm để hướng dẫn, giải đáp vướng mắc liên quan cho DN đã làm việc hết công suất.
Theo tính toán, trường hợp cơ quan thuế có kéo dài thời gian làm việc đến 24 giờ
cùng ngày, cũng không thể tiếp nhận hết hồ sơ do quá tải. Do đó, Cục Thuế Hà Nội
mới quyết định không tiếp nhận thêm hồ sơ sau 17 giờ ngày 31/3.
IV. Đánh giá và ý kiến pháp lý của
cá nhân.
1.Về việc tuân thủ pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh.
Đánh giá về việc tuân thủ pháp luật
của một chủ thể có nghĩa là đánh giá về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của
chủ thể đó đến đâu.
(*) Đối với chủ thể là người nộp thuế
Cá nhân NNT tuân thủ pháp luật thuế
về giảm trừ gia cảnh là việc cá nhân đó đã kê khai NPT được giảm trừ gia cảnh
một cách chính xác, trung thực, nộp hồ sơ đúng thời hạn, chịu trách nhiệm trước
pháp luật về tính chính xác, trung thực về những gì mình đã kê khai. Trong
trường hợp có thay đổi (tăng, giảm) về NPT thì cá nhân NNT phải thực hiện khai
bổ sung thông tin thay đổi của NPT theo đúng quy định của pháp luật. Người nộp
thuế phải cung cấp các thông tin cần thiết khi cơ
quan quản lí thuế phát hiện NNT có những vi phạm pháp luật thuế cần kiểm tra,
xác minh.
Tuy
nhiên, em đã không thể thu thập được thông tin, nắm bắt được các số liệu thực tế
về các trường hợp gian luận thuế, khai man về NPT của cá nhân NNT để được giảm
trừ gia cảnh, đặc biệt là trong quá trình làm hồ sơ chứng minh NPT liệu có sự
gian dối nào không, hay khi có thay đổi về NPT NNT có đi đăng ký lại không? Cho
nên, em không thể có đánh giá riêng về việc tuân thủ pháp luật thuế về giảm trừ
gia cảnh của người nộp thuế từ tháng 7/2013. Do vậy, thông qua việc tìm hiểu về
kỳ quyết toán thuế năm 2013 vừa rồi, em xin đưa ra một số ý kiến đánh giá về việc
tuân thủ pháp luật thuế thu nhập của cá nhân người nộp thuế như sau:
Thứ
nhất là NNT đã nhận thức được rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với nhà nước,
với xã hội. Đó chính là việc người nộp thuế đã tự nguyện, chủ động kê khai thu
nhập của mình, tiến hành quyết toán thuế TNCN, trích một phần thu nhập cá nhân
nộp cho ngân sách nhà nước.
Thứ
hai, trong kỳ quyết toán thuế năm nay với nhiều chính sách về thuế thay đổi đặc
biệt là những quy định mới về giảm trừ gia cảnh, NNT đã chủ động quan tâm, tích
cực tham gia các buổi tập huấn hướng dẫn quyết toán thuế TNCN năm 2013, đưa ra
các câu hỏi, băn khoăn, thắc mắc trong các buổi đối thoại giữa NNT với cơ quan
thuế, hay trao đổi trên các diễn đàn để được cung cấp các thông tin cần thiết,
đảm bảo thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của chính mình. Bên cạnh đó vẫn có nhiều
NNT
chủ quan trong quá trình thực hiện đăng ký giảm trừ gia cảnh cho NPT chưa làm
đúng qui định dẫn đến khi thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân làm tăng số
thuế phải nộp không đáng có do không được tính giảm trừ gia cảnh.
Thứ
ba là nhiều người nộp thuế đã chủ động tiếp cận với công nghệ thông tin, tiến
hành nộp thuế qua mạng internet. Điều này đã giúp giảm
tải rất nhiều số lượng hồ sơ tiếp nhận trực tiếp theo phương pháp truyền thống
(đến nộp trực tiếp cho cơ quan thuế). Vì vậy, cả cơ quan thuế và các tổ chức,
cá nhân đều tiết kiệm được rất nhiều thời gian, chi phí, sức lực cho việc thực
hiện nghĩa vụ với nhà nước.
Thứ
tư là đã có một bộ phận NNT đã có tâm lý nộp thuế sớm để tránh hiện tượng ùn tắc
không nộp được thuế và có thể bị xử lý vi phạm. Bên cạnh đó thì đại bộ phận NNT
vẫn chưa có ý thức đến hạn chót mới đi quyết toán thuế và còn một số người chưa
đi quyết toán thuế.
(*)Đối với
chủ thể là cơ quan thuế.
Đánh giá sự tuân thủ pháp luật thuế
về giảm trừ gia cảnh của cơ quan thuế
phải dựa trên việc cơ quan này có thực hiện đúng thẩm quyền, chức trách
của nhà quản lý, cơ quan thu thuế hay không? Rõ ràng, các quy định của pháp
luật về giảm trừ gia cảnh chỉ ở trên giấy hay được thực hiện đến đâu là phụ
thuộc rất nhiều vào cơ quan thực thi pháp luật – cơ quan thuế. Khi triển khai
trên thực tế, các văn bản hướng dẫn sẽ bắt đầu gặp phải những gia cảnh rất khác
nhau, vấn đề là xếp vào nhóm nào, có được trừ hay không để tính thuế sao cho
công bằng thì sẽ là khó. Do đó, để có hướng hoàn thiện pháp luật đảm bảo sự
công bằng – mục tiêu của pháp luật thì việc tìm hiểu, đánh giá về sự tuân thủ
pháp luật của cơ quan thuế là rất quan trọng. Để đánh giá được chúng ta phải
bám sát vào quyền và trách nhiệm của cơ quan thuế theo quy định của pháp luật.
Theo đó có thể đặt ra một số câu hỏi như sau: cơ
quan thuế đã thực hiện tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn pháp luật về thuế; đặc
biệt là các chính sách thuế mới cho NNT chưa? Mức độ thực hiện đã sâu rộng
chưa? Có đảm bảo được mọi cá nhân NNT có thể tiếp cận với nguồn thông tin này
không? Cơ quan thuế có tiến hành giải
thích, cung cấp thông tin, hướng dẫn NNT liên quan đến việc kê khai NPT hay
không? Cơ quan thuế đã có những biện pháp nào để quản lý, kiểm tra, rà soát,
đánh giá mức độ chính xác, trung thực của NNT trong việc kê khai NPT để được giảm
trừ gia cảnh? Cán bộ, công chức, nhân viên thuế có thực hiện đúng thẩm quyền
không, liệu có sự lạm quyền, sách nhiễu NNT không? Và một số câu hỏi khác liên
quan đến tham nhũng, quan liêu.
Trên cơ sở đó và qua việc tìm hiểu các thông tin
liên quan đến kỳ quyết toán 2013, em có một số ý kiến đánh giá về việc tuân thủ
pháp luật của cơ quan thuế như sau:
Về
cơ bản thì cơ quan thuế đã hoàn thành tốt trách nhiệm của mình. Một là cơ quan
thuế tích cực tuyên truyền, hướng dẫn pháp luật về Thuế cho NNT. Hai là hệ thống
cơ quan thuế trên khắp cả nước đã chuẩn bị tốt về cả nhân lực lẫn vật chất để
thực hiện tốt kỳ quyết toán 2013 vừa qua. Ba là, cán bộ thuế nhiệt tình hướng dẫn,
hỗ trợ NNT, tham gia đối thoại với NNT, trả lời những băn khoăn thắc mắc của
NNT.
Bên
cạnh đó, hiện tượng cán bộ thuế gây khó khăn cho người nộp thuế vẫn xảy ra. Một
số cán bộ thuế nắm vẫn chưa chắc các kiến thức liên quan đến chính sách thuế mới,
nên có những trường hợp trả lời câu hỏi của dân còn lúng túng hoặc hướng dẫn
không chính xác nên khi NNT đi quyết toán thuế không đúng bị cơ quan thu thuế
yêu cầu làm lại, tốn kém thời gian, tiền bạc của NNT. Điều này có thể dẫn đến mất
lòng tin của NNt với cơ quan thuế.
2.Về những quy định của pháp luật về giảm trừ gia cảnh
Sau khi tìm hiểu về các quy định của
pháp luật về giảm trừ gia cảnh, em có một số ý kiến như sau:
Thứ nhất là quy định về mức giảm trừ. Theo quy định của pháp
luật hiện hành thì mức giảm trừ gia cảnh đối với người nộp thuế là 9 triệu
đồng/tháng, đối với mỗi NPT là 3,6 triệu đồng/tháng. Với quy định mới này số lượng người nộp thuế sẽ giảm đi đáng kể (3,87 triệu
người xuống còn khoảng 1 triệu người), có nhiều ý kiến lo lắng cho rằng mức giảm
trừ này sẽ làm sai lệch bản chất của thuế thu nhập cá nhân (chuyển thành thuế
thu nhập cao), ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, dựa trên
những phân tích đánh giá cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn trong tờ trình của
Chính phủ ngày 30/7/2012 khi ấn định mức giảm trừ 9 triệu cho NNT và 3,6 triệu
đồng cho mỗi NPT cũng như những ý kiến tranh luận của các chuyên gia, cá nhân
em cũng tán thành với mức giảm trừ này. Trong điều kiện kinh tế như hiện nay, mức
khới điểm chịu thuế là 9 triệu đồng mới có thể đáp ứng được nhu cầu ăn, mặc, đi
lại, học hành, khám chữa bệnh, chi tiêu cho đời sống văn hóa, tinh thần của cá
nhân người nộp thuế và NPT.
Thứ hai là quy định đối tượng NPT được giảm trừ gia cảnh
(Điểm d, khoản 1, Điều 9 Thông tư 111/2013). Có
rất nhiều căn cứ để xác định NPT: độ tuổi, khả năng lao động và thu nhập thực tế
của cá nhân. Tuy nhiên điều kiện tiên quyết để xác định NPT là trách nhiệm nuôi
dưỡng
của đối tượng nộp thuế. Chính những điều kiện phức tạp này mà việc xác định NPT
rất khó khăn và mang tính chủ quan của người áp dụng. Do đó, em xin đưa ra một số trường hợp mà theo em
là còn bất cập cũng như có thể khó xác định trên thực tế như sau:
- Trường hợp NPT là con từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật,
không có khả năng lao động. Đây là đối tượng mà cá nhân người nộp thuế phải
dành một khoản thu nhập để chăm sóc, nuôi dưỡng. Theo quy định tại
Điều 36 Luật hôn nhân gia đình thì Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau
chăm sóc, nuôi dưỡng con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,
không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Như vậy, nếu
người con bị mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động tạo thu
nhập để nuôi sống chính bản thân mình thì cha mẹ cũng có trách nhiệm nuôi dưỡng.
Tuy nhiên nếu đối chiếu với quy định của luật thuế TNCN hiện hành thì người con
đó lại không được xác định là NPT của cha mẹ trong trường hợp này. Theo em, đây
là một điểm bất hợp lý, pháp luật về giảm trừ gia cảnh cần bổ sung trường hợp
con đã thành niên mà bị mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động
là NPT của NNT để đảm bảo tính công bằng và thống nhất giữa các quy định của
pháp luật.
- Trường hợp NPT là con đang theo
học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại bậc học đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi đang theo học bậc học phổ thông
không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các
nguồn thu nhập không vượt quá 1 triệu đồng. Đây là đối tượng đang đi học, không
có thu nhập đảm bảo cuộc sống bản thân, cha mẹ vẫn phải nuôi dưỡng. Tuy nhiên,
trong trường hợp cha mẹ già yếu, người nuôi dưỡng, cung cấp tiền cho cá nhân
này không phải là cha mẹ mà là anh/chị ruột, cô/dì/chú/bác ruột … thì cá nhân
này có được tính là NPT được giảm trừ gia cảnh của anh/chị ruột, cô/dì/chú bác
ruột không và nếu có thì xếp vào nhóm nào mà pháp luật đã quy định? Hiện nay,
liên quan đến NPT có quan hệ anh/chị/em ruột, cô/dì/chú/bác ruột thì chỉ có quy
định tại tiết d4, điểm d, khoản 1 điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Không lẽ
phải xếp người đang đi học đại học mà được anh/chị ruột nuôi dưỡng là người
không nơi lương tựa theo quy định điều này để được giảm trừ gia cảnh? Tuy
nhiên, tại điểm đ thông tư này quy định: cá nhân không nơi nương tựa tính là NPT
của NNT (trường hợp cá nhân đó trong độ tuổi lao động) thì phải thỏa mãn đồng
thời 2 điều kiện là (1) bị khuyết tật, không có khả năng lao động, (2) không có
thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu
nhập không vượt quá 1 triệu đồng. Do dó, cũng khó có thể xếp cá nhân đang đi
học đại học,… mà được anh/chị ruột nuôi dưỡng là cá nhân không nơi nương tựa mà
NNT đang trực tiếp nuôi dưỡng là NPT được. Chính vì vậy, pháp luật cần bổ sung
trường hợp cá nhân đang theo học đang theo học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại
bậc học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả cá nhân từ
18 tuổi đang theo học bậc học phổ thông không có thu nhập hoặc có thu nhập bình
quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1 triệu đồng
là NPT của người trực tiếp nuôi dưỡng (bố/mẹ, anh/chị/em ruột, ông/bà
nội/ngoại, cô/dì/chú/bác ruột).
- Trường hợp NPT được xác định là cá
nhân không nơi nương tựa quy định tại d.4.3, tiết d4, điểm d, khoản 1 điều 9
Thông tư 111/2013/TT-BTC: “cháu ruột của người nộp thuế bao gồm: con của anh
ruột, chị ruột, em ruột”. Quy định này có nghĩa là cháu của người nộp thuế được
xác đinh là NPT được giảm trừ gia cảnh chỉ khi người cháu đó là con ruột của
anh/chị/em ruột. Theo quy định của luật hôn nhân gia đình thì trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã
thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động
và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng (không còn cha
mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
con) thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu. Do đó,
pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh cần bổ sung thêm trường hợp cá nhân không
nơi nương tựa mà NNT đang trực tiếp nuôi dưỡng và thỏa mãn điều kiện quy định tại
điểm đ, khoản 1, điều 9 thông tư 111/2013/NĐ-CP là cháu ruột của ông/ bà nội/ngoại.
3. Biện pháp đảm bảo thực hiện hiệu quả
luật thuế thu nhập cá nhân về giảm trừ gia cảnh.
*) Về phía cơ quan quản lý
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
phổ biến, hướng dẫn, giải thích chính sách tăng sự đồng thuận, ủng hộ của nhân
dân và của cộng đồng về ý nghĩa, mục tiêu cũng như những nội dung liên quan đến
chính sách thuế TNCN về
giảm trừ gia cảnh. Theo
đó, NNT sẽ nắm bắt được các quy định của pháp luật về giảm trừ gia cảnh, tự
giác kê khai giảm trừ gia cảnh đối với NPT một cách chính xác và trung thực.
Thứ hai, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với các
cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cũng như sự phối hợp với chính quyền địa
phương trong việc tổ chức thi hành Luật. Theo đó, cơ quan thuế sẽ có sự nắm bắt, quản lý chặt chẽ
thông tin gia cảnh người nộp thuế. Đánh giá chính xác đối tượng mà NNT kê khai
là NPT, có đúng là đối tượng mà NNT đang có trách nhiệm và trực tiếp nuôi dưỡng
hay không và nếu có thì xếp vào nhóm nào, góp phần đảm bảo công bằng và áp dụng
thống nhất các quy định của pháp luật.
Thứ ba, kịp thời hoàn chỉnh hệ thống văn bản hướng
dẫn Luật, tổ chức tập huần cho các đối tượng liên quan trên phạm vi cả nước. Theo đó, việc áp dụng pháp luật sẽ
thống nhất và chính xác. Khi có biến động giá cả, Chính phủ cần kịp thời đề xuất
thay đổi mức giảm trừ gia cảnh phù hợp với thực trạng nền kinh tế.
Thứ tư, đẩy mạnh và hoàn thiện hệ thống công nghệ
thông tin phục vụ cho công tác quản lý, thu thuế TNCN trên phạm vi cả nước, đẩy
mạnh cải cách hành chính trong việc nộp và quyết toán thuế. Việc áp dụng công nghệ thông tin
vào quản lý thuế tạo ra một cơ sở dữ liệu đầy đủ, giúp cơ quan thuế dễ dàng nắm
bắt các thông tin, sự thay đổi NPT của NNT. Từ đó có những biện pháp xử lý phù
hợp, tránh tình trạng thất thu thuế.
*) Về phía người nộp thuế
Người nộp
thuế cần phải nâng cao trách nhiệm của mình với nhà nước, với xã hội; tích cực
lao động và làm giàu chính đáng. NNT phát huy tinh thần tự giác, tự nguyện đóng
góp, kê khai giảm trừ gia cảnh cho NPT chính xác và trung thực, hoàn thành tốt
nghĩa vụ của mình đối với nhà nước.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)