Hiển thị các bài đăng có nhãn QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC TRONG LVTM VÀ MÔI TRƯỜNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC TRONG LVTM VÀ MÔI TRƯỜNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016

ìm hiểu tình hình thực tế áp dụng các quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam.

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam chúng ta hiện nay có tốc độ phát triển kinh tế khác nhanh, bên cạnh những thành tựu chúng ta đạt được trên các mặt về kinh tế- xã hội còn kéo theo những hậu quả tác động xấu tới môi trường. Đánh giá tác động môi trường là công cụ pháp lý và kỹ thuật quan trọng để xem xét, dự báo tác động môi trường của các dự án cụ thể; cung cấp luận cứ khoa học cho chính quyền, cơ quan quản lý chuyên ngành và doanh nghiệp cân nhắc trong quá trình quyết định đầu tư. Do đó để hiểu rõ hơn thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường nên em xin chọn đề tài số 42 : “ Tìm hiểu tình hình thực tế áp dụng các quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam.”

NỘI DUNG

Căn cứ theo khoản 20 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 (Luật BVMT) có nêu: “ Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó.” Theo đó, các chủ thể có nghĩa vụ ĐTM phải xác định được các yếu tố liên quan đến họat động phát triển, như yếu tố môi trường, yếu tố kinh tế - xã hội để từ đó nghiên cứu, thực hiện dự án nhằm mục tiêu dự báo và giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường. Đồng thời khi phát hiện những tác động tiêu cực thì các chủ thể có nghĩa vụ ĐTM phải đưa ra các phương pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đó.
Vai trò của ĐTM: Sự tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội nhanh như hiện nay kéo theo những tác động xấu tới môi trường, do đó để hạn chế tới mức thấp nhất tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tới môi trường thì hoạt động ĐTM là rất cần thiết phải thực hiện. Hoạt động ĐTM sẽ phần nào dự báo được các tác động tới môi trường của các dự án đầu tư cụ thể, đồng thời đưa ra những biện pháp nhằm hạn chế những tác động têu cực, phát huy những tác động tích cực đối với môi trường. Vì thế, khi lập báo cáo ĐTM sẽ có rất nhiều lợi ích: hoàn thiện thiết kế và lựa chọn dự án, cung cấp thông tin chuẩn xác cho việc ra quyết định của chủ đầu tư và cơ quan phê duyệt đầu tư, tăng cường trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình triển khai dự án, đưa dự án phù hợp với bối cảnh môi trường để giảm bớt những tác đỗng xấu tới môi trường, đómg góp phát triển bền vững. Với những lợi ích đó ĐTM đóng góp: Phòng ngừa ôi nhiễm môi trường, sự cố môi trường và góp phần giảm thiểu các xung đột môi trường, tạo ra sự đồng thuận của cộng đồng trong bảo vệ môi trường.
         Mục đích và ý nghĩa của ĐTM: ĐTM góp phần phát triển bền vững, tìm ra biện pháp tối ưu để hạn chế và giảm thiểu các tác động tiêu cực từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tới môi trường; cung cấp thông tin cho việc ra quyết định để hoạt động phát triển phù hợp với môi trường. Đồng thời ràng buộc nghĩa vụ pháp lý của chủ dự án trong suốt quá trình họat động của dự án.
Quy định ĐTM của Việt Nam lần đầu tiên được đưa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và đến này đã có những điều chỉnh đáng kể. Các chế tài về ĐTM lần đầu tiên được quy định tại Điều 17, 18 Luật bảo vệ môi trường ban hành ngày 27/12/1993 và tiếp đó là Nghị định 175/CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường năm 1993. Các quy định này yêu cầu tất cả các dự án trong nước và đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đều là đối tượng phải thực hiện ĐTM. Các dự án đã đi vào hoạt động cũng cần lập báo cáo đánh giá tác động dưới dạng: “ kiểm toán môi trường”.
Luật bảo vệ môi trường năm 2005 ban hành ngày 29/11/2005 đã dành riêng một chương riêng quy định về công tác đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và các cam kết bảo vệ môi trường. Nếu như bước tiến hành báo cáo ĐTM sơ bộ được coi là bắt buộc đối với các dự án thì khi có luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì không phải dự án nào cũng phải lập báo các TĐMT và Nghị định 21/2008/NĐ- CP của chính phủ ban hành ngày 28/2/2008  đã liệt kê một bảng danh mục các đối tượng gồm 162 loại dự án khác nhau phải lập báo cáo ĐTM. Hiện nay, theo nghị Định 29/2011/NĐ – CP và thông tư số 26/2011/ TT – BTNMT đã ban hành kèm theo một bảng danh mục các dự án phải lập báo cáo ĐTM gồm 146 loại dự án.
Căn cứ theo Điều 18 Luật BVMT 2005 quy định về đối tượng phải lập báo cáo ĐTM, các đối tượng phải lập báo cáo bao gồm: Dự án công trình quan trọng quốc gia;dự án có sử dụng một phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu tới khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu di tích lịch sử - văn hóa, di sản tự nhiên, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng;  dự án có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ; dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, cụm làng nghề; dự án xây dựng mới đô thị, khu dân cư tập trung; dự án khai thác, sử dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên quy mô lớn; dự án có tiềm ẩn nguy cơ lớn gây tác động xấu tới môi trường.
Mặt khác, Nghị định 29/2011/NĐ-CP quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường còn đưa ra danh mục đối tượng phải lập ĐTM tại Phụ lục II nghị định này. Như vậy, có thể thấy đối tượng phải lập báo cáo ĐTM cho dự án của mình hay không còn phải căn cứ vào địa điểm thực hiện dự án, quy mô, tính chất họat động của dự án.
Căn cứ theo Điều 19 Luật BVMT 2005 có quy định: “1. Chủ dự án quy định tại Điều 18 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2. Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án.
3. Chủ dự án tự mình hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và chịu trách nhiệm về các số liệu, kết quả nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.
4. Trường hợp có thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian triển khai, thực hiện, hoàn thành dự án thì chủ dự án có trách nhiệm giải trình với cơ quan phê duyệt; trường hợp cần thiết phải lập báo báo đánh giá tác động môi trường bổ sung.
5. Tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường phải có đủ điều kiện về cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết”. ĐTM xem xét việc thực hiện đề án sẽ gây ra những vấn đề gì đối với đời sống của con người tại khu vực dự án, tới kết quả của chính dự án và các họat động khác tại vùng đó. Sau dự báo của ĐTM phải xác định các biện pháp làm giảm đến mức tối thiểu các tác động tiêu cực, làm cho dự án thích hợp với môi trường của nó.
 Mặt khác, căn cứ theo khoản 2, 3 Điều 12 Nghị định 29/2011/NĐ – CP quy định về trách nhiệm lập báo cáo ĐTM và trường hợp phải lập lại báo cáo ĐTM: “2. Chủ dự án có trách nhiệm lập hoặc thuê tổ chức có đủ điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định này lập báo cáo đánh giá tác động môi trường cho dự án đầu tư của mình. 3. Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải lập lại trong các trường hợp sau đây: a) Thay đổi địa điểm thực hiện dự án; b) Không triển khai thực hiện dự án trong thời gian ba mươi sáu (36) tháng, kể từ thời điểm ban hành quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; c) Thay đổi quy mô, công suất hoặc công nghệ làm gia tăng mức độ tác động xấu đến môi trường hoặc phạm vi chịu tác động do những thay đổi này gây ra.”
Nội dung báo cáo ĐTM được quy định tại Điều 20 LBVMT, Điều 17 Nghị định 29/NĐ – CP quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. Như vậy, ta có thể thấy nội dung cơ bản của báo cáo ĐTM bao gồm: đánh giá hiện trạng môi trường của dự án tại địa bàn hoạt động của dự án; dự báo những ảnh hưởng đến môi trường do họat động của dự án gây ra; kiến nghị giải pháp xử lý về mặt môi trường. Bên cạnh đó, để quan triệt công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường và để có ý kiến sát sao, khách quan hơn của những người dân địa phương và những người chịu trực tiếp hậu quả môi trường của dự án, cụ thể khoản 8 Điều 20 Luật BVMT quy định: “Ý kiến của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã), đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án; các ý kiến không tán thành việc đặt dự án tại địa phương hoặc không tán thành đối với các giải pháp bảo vệ môi trường phải được nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.” Đây là những ý kiến rất quan trọng của những người trong cuộc, có sự hiểu biết tường tận chất lượng môi trường sống trên địa bàn thực hiện dự án. Mặt khác, tại khoản 1, 2 Điều 14 Nghị định 29/2011/NĐ – CP và Điều 12 Thông tư 26/2011 quy định chi tiết một số điều của Nghị định 29/2011/NĐ – CP đã quy định chi tiết về vấn đề tham vấn ý kiến trong quá trình lập báo cáo ĐTM. Như vậy,  ta có thể thấy quần chúng nhân dân có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng tới dự án đó có được triển khai trên thực tế hay không, và họ là những người có thể phải chịu ảnh trực tiếp từ dự án đầu tư, do đó ý kiến của họ có tính khả thi, và góp phần hoàn thiện hơn các giải pháp giảm thiểu ôi nhiễm môi trường được đưa ra trong báo cáo.
-                       Hình thức thẩm định: Căn cứ theo Điều 21 Luật BVMT, khoản 1 Điều 18 Nghị định 29/2011/NĐ – CP việc thẩm định báo cáo ĐTM có hai hình thức thẩm định thông qua Hội đồng thẩm định hoặc tổ chức dịch vụ thẩm định. Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định điều kiện và hướng dẫn hoạt động thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của tổ chức dịch vụ thẩm định.
-                       Cơ quan tổ chức thẩm định: Căn cứ theo khoản 7 Điều 21 Luật BVMT quy định trách nhiệm tổ chức việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án được quy định như sau:
“a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định, phê duyệt; dự án liên ngành, liên tỉnh;
b) Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình, trừ dự án liên ngành, liên tỉnh;
c) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án trên địa bàn quản lý thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình và của Hội đồng nhân dân cùng cấp.”  Tuy nhiên, riêng đối với họat động bảo vệ  môi trường nước sông tại khoản 4 Điều 60 Luật BVMT quy định: “Việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án phát triển mới khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân cư tập trung, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quy mô lớn trong lưu vực phải có sự tham gia ý kiến của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có sông chảy qua.”
-                       Hồ sơ xin thẩm định ĐTM: số lượng và mẫu hồ sơ đề nghị thẩm định được quy định cụ thể tại Điều 6 Nghị định 29/2011/NĐ- CP quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường.
-                       Thời hạn và kết quả thẩm định
Thời hạn thẩm định quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 29/2011/NĐ – CP: a) Báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thời hạn thẩm định tối đa là bốn mươi lăm (45) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp dự án phức tạp về tác động môi trường, thời hạn thẩm định tối đa là sáu mươi (60) ngày làm việc;
b) Báo cáo đánh giá tác động môi trường không thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thời hạn thẩm định tối đa là ba mươi (30) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ. Đối với những dự án phức tạp về tác động môi trường, thời hạn thẩm định là bốn mươi lăm (45) ngày làm việc.” Trong trường hợp báo cáo ĐTM không được thông qua và phải thẩm định lại thì thời gian thẩm định được thực hiện lại như quy định trên.
  Kết quả thẩm định ĐTM được quy định tại khoản 3 Điều 22 Luật BVMT: “Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được chỉnh sửa đạt yêu cầu theo kết luận của hội đồng thẩm định, tổ chức dịch vụ thẩm định, thủ trưởng cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này phải xem xét, quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; nếu không phê duyệt thì phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do cho chủ dự án biết.” Như vậy, kết quả thẩm định ĐTM thể hiện bằng quyết định phê duyệt hoặc nếu không phê duyệt phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do cho chủ dự án được biết.
         Theo quy định tại Điều 23 Luật BVMT quy định trách nhiệm thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường. Như vậy, hoạt động sau thẩm định báo cáo ĐTM đòi hỏi trách nhiệm của chủ dự án trong qua trình thực hiện dự án phải thực hiện đúng nội dung bản báo cáo ĐTM và trách nhiệm của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM.
-        Về nội dung của báo cáo ĐTM, có thể nói hoạt động ĐTM sẽ không đạt được hiệu quả cao nếu như thiếu cơ chế huy động sự tham gia của cộng đồng vào họat động ĐTM. Luật BVMT 2005 và tại khoản 1, 2 Điều 14 Nghị định 29/2011/NĐ – CP và Điều 12 Thông tư 26/2011 quy định chi tiết một số điều của Nghị định 29/2011/NĐ – CP đã quy định chi tiết về vấn đề tham vấn ý kiến trong quá trình lập báo cáo ĐTM đã cho thấy việc công khai thông tin về hoạt động ĐTM để người dân và các cơ quan thông tấn, báo chí có điều kiện cùng cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân hữu quan giám sát việc thực hiện ĐTM của chủ dự án từ đó nâng cao trách nhiệm của các chủ dự án về bảo vệ môi trường.
-        Về tổ chức thẩm định, các quy định về ĐTM cũng cho thấy chính sách mở rộng xã hội hoá, huy động sự tham gia của các tổ chức có chuyên môn vào công tác lập cũng như thẩm định báo cáo ĐTM. Ngoài các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm về công tác thẩm định còn có thêm các tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM.
-        Hoạt động sau thẩm định, thông qua việc thẩm định báo cáo ĐTM, hầu hết các dự án đều giải trình được phương án xử lý nước thải, cam kết bảo đảm phí đầu tư cho việc xây dựng, vận hành công trình và thực hiện chương trình giám sát môi trường. Đồng thời căn cứ vào kết quả thẩm định, cơ quan có thẩm quyền nhà nước các cấp đã buộc các cơ sở không đạt yêu cầi phải thay đổi công nghệ sản xuất, thay thế nguyên, nhiên liệu
-        Quan niệm sai lệch về yêu cầu ĐTM: bản chất của ĐTM là quá trình tìm hiểu, dự báo các tác động môi trường và tác động xã hội tiêu cực, đề xuất giải pháp ngăn ngừa, hạn chế các tác động tiêu cực đó khi thực hiện dự án. Tuy nhiên, các chủ dự án khi thực hiện hoạt động này chủ yếu đều cho đó là một thủ tục trong quá trình chuẩn bị hoặc thực hiện dự án. Do đó, việc lập báo cáo ĐTM chỉ làm lấy lệ, cho đủ thủ tục để được thực hiện dự án. Nếu chủ dự án chú trọng tới báo cáo ĐTM theo đúng bản chất của báo cáo này thì sẽ không có những xung đột xảy ra giữa chủ dự án và nhân dân địa phương ở khu vực đó.
-        Về tổ chức thẩm định, Bộ tài nguyên và môi trường chưa ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết điều kiện hoạt động của tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM theo nghị định 29/2011/NĐ – CP của chính phủ do đó rất khó khăn cho cơ quan quan lý nhà nước địa phương khi xem xét điều kiện được phép làm tư vấn báo cáo ĐTM. Do đó, nếu tổ chức tư vấn không đầy đủ năng lực hoặc năng lực còn hạn chế thì chất lượng của bản báo cáo ĐTM sẽ thấp, có thể phải chỉnh sửa, bổ sung do đó tốn thời gian, công sức và kinh phí cho chủ đầu tư và cơ quan có thẩm quyền.
-        Về việc thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM: thực tế hoạt động thẩm định chưa thực sự trở thành một kênh phản biện trong sự đối trọng với những ưu tiên về dự án đầu tư và phát triển kinh tế, nhất là đối với các dự án đầu tư quy mô lớn của nước ngoài nhưng tiềm ẩn rủi ro cao về môi trường như xây dựng thuỷ điện, cảng biển, khai thác khoáng sản, sửa chữa tàu biển, tái chế rác thải… Các ý kiến đánh giá của hội đồng thẩm định hầu như chỉ mang tính chất tư vấn, tham khảo, quyết định thông qua báo cáo ĐTM được định đoạt bởi hội đồng phê duyệt chứ không thuộc hội đồng thẩm định. Trong trường hợp dự án được thông qua và khi đi vào hoạt động gây ra những tác động và suy thoái môi trường thì sẽ khó xác định trách nhiệm cho các bên liên quan.
-        Chất lượng thẩm định, hiện nay nếu xét về tính đồng bộ, toàn diện thì các quy định về ĐTM hiện nay pháp luật còn thiếu những quy định về cơ sở để đánh giá chất lượng bản báo cáo ĐTM. Mặc dù, các quy định hiện hành dường như cũng đã cố gắng khắc phục hạn chế này bằng các phương thức như quy định các chủ thể lập báo cáo ĐTM phải đảm bảo những nội dung nhất định trong báo cáo ĐTM, quy định về việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường, quy định cách thức thực hiện (như yêu cầu thành lập tổ công tác, yêu cầu về thành phần tham gia…), quy định chi tiết về  các bước thẩm định, chủ thể thẩm định v.v. Điều đó dẫn đến một thực tế là việc thẩm định các báo cáo ĐTM chủ yếu dựa vào ý chí chủ quan của người thẩm định, chưa có các căn cứ cụ thể để thẩm định và cơ chế pháp lý cụ thể ràng buộc yêu cầu thẩm định.
-        Về tính khả thi, cơ chế giám sát của cộng đồng: về mặt pháp lý, có thể nói các quy định về thủ tục nhằm đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào quá trình lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM hiện nay tương đối chặt chẽ. Tuy nhiên, hoạt động lập báo cáo ĐTM là hoạt động có tính chuyên môn cao và với nhận thức của cộng đồng dân cư thì khó có thể đánh giá được hết các vấn đề chuyên môn của các báo cáo này. Các quy định hiện hành chỉ quy định các thủ tục, trình tự lấy ý kiến tham vấn cộng đồng, không có bất kỳ cơ chế nào để hỗ trợ về chuyên môn nhằm nâng cao nhận thức và khả năng của cộng đồng trong việc xem xét các nội dung của báo cáo ĐTM. Không được hỗ trợ về các vấn đề chuyên môn, cộng đồng dân cư có thể gặp khó khăn khi đưa ra ý kiến về các dự án triển khai tại địa bàn và trong nhiều trường hợp, các ý kiến được đưa ra không xác đáng hoặc cản trở các dự án đã có các phương án bảo vệ môi trường phù hợp.
-        Dựa hoàn toàn vào danh mục quy định các dự án phải lập báo cáo ĐTM đã làm nảy sinh nhiều lúng túng khi xuất hiện loại hình dự án mới không có trong danh mục thì không xác định được có phải lập báo cáo ĐTM hay không.
Thứ nhất, cần nghiên cứu hoàn thiện các quy định đảm bảo chất lượng của báo cáo ĐTM, trong đó có việc đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng của báo cáo ĐTM. Việc đưa ra các tiêu chí cụ thể về mặt nội dung đối với báo cáo ĐTM vừa đảm bảo tính minh bạch của các quy định về lập và thẩm định báo cáo ĐTM, vừa làm cơ sở cho các tổ chức, cá nhân lập báo cáo ĐTM, vừa là căn cứ cho việc thẩm định báo cáo.
Thứ hai, cần cụ thể hoá các quy định về điều kiện chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ lập báo cáo ĐTM nhằm đảm bảo năng lực cung cấp dịch vụ của các tổ chức này và đảm bảo chất lượng của công tác ĐTM trên thực tế.
Thứ ba, cần làm rõ trách nhiệm môi trường của các chủ thể tham gia vào việc lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM đảm bảo trong trường hợp các dự án được phê duyệt làm tổn hại đến môi trường xuất phát từ chất lượng của báo cáo ĐTM thì sẽ có chủ thể phải chịu trách nhiệm về hậu quả này. Cụ thể là trong trường hợp báo cáo ĐTM được lập không đánh giá đầy đủ các tác động môi trường cũng như thiếu những giải pháp cần thiết để đảm bảo hạn chế tác động tiêu cực của dự án đến môi trường mà vẫn được phê duyệt thì sẽ xác định trách nhiệm của người phê duyệt, người thẩm định và chủ dự án như thế nào, trong trường hợp dự án đó được triển khai và gây thiệt hại cho môi trường, cho cộng đồng dân cư thì trách nhiệm thuộc về ai là những vấn đề cần được làm rõ.
Thứ tư, cần có những chế tài nghiêm khắc hơn đối với các vi phạm nghĩa vụ từ việc lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện báo cáo ĐTM để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm, bổ sung chế tài đình chỉ dự án và yêu cầu khôi phục hiện trạng để tránh tình trạng có những chủ thể cố tình không lập báo cáo ĐTM nhưng vẫn triển khai dự án gây ra những hậu quả môi trường không thể khắc phục được.

Các quy định về ĐTM có một vị trí tương đối quan trọng trong hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam và ngày càng được quan tâm hoàn thiện. Điều đó chứng tỏ sự nhìn nhận về vai trò của ĐTM như một công cụ quan trọng để thực hiện công tác quản lý đối với môi trường. 

Trình bày quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện kinh doanh đối với một ngành nghề kinh doanh có điều kiện cụ thể (do sinh viện tự chọn)

Trong giai đoạn hiện nay, sự đa dạng và phức tạp của ngành, nghề kinh doanh cũng là những cơ hội cho họat động kinh doanh phát triển mở rộng. Nhưng bản chất kinh doanh là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, đem lại lợi ích cho cá nhân hoặc cho tổ chức. Do đó, tự các tổ chức, cá nhân kinh doanh không thể bảo đảm lợi ích chung của toàn xã hội, hoạt động kinh doanh của các chủ thể có nguy cơ xâm hại lợi ích của chủ thể khác. Vì mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp mình, chủ thể kinh doanh có thể không loại trừ những ngành, nghề kinh doanh nào mà nhu cầu xã hội đặt ra. Thực tế, không phải nhu cầu nào cũng chính đáng, có những nhu cầu có nguy cơ làm băng hoại giá trị đạo đức, ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội nên việc cung ứng các dịch vụ này xâm hại tới trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần có sự quản lý, điều hành của nhà nước.Việc quy định điều kiện ngành nghề kinh doanh không có nghĩa là hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp mà là tạo môi trường kinh doanh minh bạch cho các doanh nghiệp có cơ sở loại trừ đối với một số ngành nghề, còn lại có thể tự do đăng kí kinh doanh ở tất cả các ngành, nghề khác. Tùy thuộc vào mức độ tác động của ngành, nghề kinh doanh đến trật tự an toàn xã hội và lợi ích của cộng đồng, Nhà nước đưa ra các quy định về ngành, nghề cấm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có điều kiện để các doanh nghiệp có thể hoạt động mà không gây những tác hại, vi phạm lợi ích của cộng đồng. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin chọn đề tài 01: “Trình bày quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện kinh doanh đối với một ngành nghề kinh doanh có điều kiện cụ thể (do sinh viện tự chọn)”



NỘI DUNG

Căn cứ theo khoản 2 Điều 7 LDN 2005 quy định: “Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác.”
-         Thẩm quyền ban hành các điều kiện kinh doanh thuộc về chính phủ.
-         Điều kiện kinh doanh thể hiện bằng điều kiện về vốn; điều kiện về cơ sở vật chất; điều kiện về năng lực chuyên môn; điều kiện về an toàn và bảo đảm rủi ra; điều kiện phát triển kinh tế nói chung.
-Điều kiện kinh doanh được thể hiện bằng các hình thức: giấy phép kinh doanh; giấy chứng nhận đủ điều kiện đăng kí kinh doanh; giấy chứng chỉ hành nghề; giấy chứng nhận về bảo hiểm nghề nghiệp; giấy chứng nhận vốn pháp định và các hình thức khác.
         Căn cứ theo khoản 2 Điều 7 LDN 2005 và khoản 2 Điều 8 Nghị định 102/2010/NĐ- CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của luật doanh nghiệp 2005 thì điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức:
-  Giấy phép kinh doanh
Giấy phép kinh doanh là chứng thực pháp lý do một cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ thể kinh doanh, khi chủ thể đáp ứng yêu cầu của ngành nghề kinh doanh.
-  Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh
(1)     Bàn về quyền tự do kinh doanh/ Bùi Ngọc Cường - tạp chí khoa học pháp lý 2002 (tr3-10)
Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoàn toàn độc lập với giấy phép kinh doanh. Doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sau đó với từng loại ngành, nghề yêu cầu thì phải xin giấy phép chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoặc giấy phép kinh doanh.
-  Chứng chỉ hành nghề
Căn cứ theo Điều 9 Nghị định 102/2010/NĐ – CP quy định: “Chứng chỉ hành nghề quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật Doanh nghiệp là văn bản mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam hoặc hiệp hội nghề nghiệp được Nhà nước ủy quyền cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp về một ngành, nghề nhất định.
Chứng chỉ hành nghề được cấp ở nước ngoài không có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
2. Ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề và điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề tương ứng áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan.
3. Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật, việc đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký bổ sung ngành, nghề kinh doanh đó phải thực hiện theo quy định dưới đây:
a) Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật yêu cầu Giám đốc doanh nghiệp hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề, Giám đốc của doanh nghiệp hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh đó phải có chứng chỉ hành nghề.
b) Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật yêu cầu Giám đốc và người khác phải có chứng chỉ hành nghề, Giám đốc của doanh nghiệp đó và ít nhất một cán bộ chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó phải có chứng chỉ hành nghề.
c) Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật không yêu cầu Giám đốc hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề, ít nhất một cán bộ chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó phải có chứng chỉ hành nghề.”
  Như vậy, đối với những ngành, nghề riêng thì cũng có những yêu cầu về chứng chỉ hành nghề khác nhau như: yêu cầu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cần có chứng chỉ hành nghề; tất cả thành viên tham gia đều phải có chứng chỉ hành nghề,…
-  Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Mỗi cá thể có những sai sót và những rủi ro nhất định. Lúc này công ty bảo hiểm sẽ có trách nhiệm chi trả đối với những sai sót và rủi ro nói trên nếu như những cá nhân, tổ chức và công ty bảo hiểm có thiết lập một hợp đồng bảo hiểm. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cũng chính là một hợp đồng bảp hiểm. Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là giấy chứng nhận sự tồn tại hợp pháp của hợp đồng bảo hiểm này. Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thường được áp dụng đối với một số ngành nghề chuyên môn đòi hỏi trách nhiệm cao của người hành nghề như: kiến trúc sư và kĩ sư tư vấn trong ngành xây dựng, công chứng viên trong nghề công chứng…
-  Xác nhận vốn pháp định
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật thì không phải ngành nghề nào cũng cần có yêu cầu vốn pháp đinh. Khoản 1 Điều 10 Nghị định 102/2010 NĐ- CP quy định: “Ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định, mức vốn pháp định cụ thể, cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về vốn pháp định, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định, hồ sơ, điều kiện và cách thức xác nhận vốn pháp định áp dụng theo các quy định của pháp luật chuyên ngành.”
-  Chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
-  Các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới được quyền kinh doanh ngành, nghề đó mà không cần xác nhận, chấp thuận dưới bất kỳ hình thức nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
         Chính phủ định kì rà soát, đánh giá lại toàn bộ hoặc một phần các điều kiện kinh doanh, bãi bỏ hoặc kiến nghị bãi bỏ các điều kiện không còn phù hợp, sửa đổi hoặc kiến nghị sửa đổi các điều kiện bất hợp lý; ban hành hoặc kiến nghị ban hàng điều kiện kinh doanh mới theo yêu cầu quản lý nhà nước. Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp không được quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh. Phát hiện và xử lý các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có thầm quyền có hành vi vi phạm.
         Kinh doanh dịch vụ bất động sản là các hoạt động hỗ trợ kinh doanh bất động sản và thị trường bất động sản, bao gồm các dịch vụ môi giới bất động sản, định giá bất động sản, sàn giao dịch bất động sản, tư vấn bất động sản, đấu giá bất động sản, quảng cáo bất động sản, quản lý bất động sản. (khoản 3 Điều 4 Luật kinh doanh bất động sản 2007).
         Điều kiện đối với tổ chức cá nhân kinh doanh bất động sản được quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật kinh doanh bất động sản năm 2007 : “Tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải có ít nhất một người có chứng chỉ môi giới bất động sản; khi kinh doanh dịch vụ định giá bất động sản phải có ít nhất hai người có chứng chỉ định giá bất động sản; khi kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải có ít nhất hai người có chứng chỉ môi giới bất động sản, nếu có dịch vụ định giá bất động sản thì phải có ít nhất hai người có chứng chỉ định giá bất động sản.”
- Đối với dịch vụ môi giới Bất động sản cần 1 chứng chỉ môi giới Bất động sản .
- Đối với dịch vụ định giá Bất động sản cần 2 chứng chỉ định giá Bất động sản.
- Đối với dịch vụ Sàn giao dịch Bất động sản cần có 3 chứng chỉ môi giới bất động sản và 4 chứng chỉ định giá bất động sản và 1 giấy chứng nhận điều hành sản giao dịch Bất động sản, chứng nhận này do đơn vị đào tạo cấp.
- Đối với dịch vụ đấu giá Bất động sản cần có thẻ đấu giá viên do Sở tư pháp cấp.
-  Đối với dịch vụ quảng cáo, quản lý, tư vấn bất động sản thì không yêu cầu phải có chứng chỉ hoặc chứng nhận như trên.
         Căn cứ theo Nghị định 153/2007/NĐ- CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều luật kinh doanh bất động sản. Theo khoản 1 Điều 14 quy định điều kiện cấp chứng chỉ môi giới bất động sản. Theo khoản 1 Điều 15 quy định điều kiện cấp chứng chỉ định giá bất động sản. Theo quy tại khoản 2 Điều 21 về điều kiện đối với người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản : “Có giấy chứng nhận đã hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản”.
Căn cứ theo Điều 13 Luật kinh doanh bất động sản quy định trách nhiệm quản lý của nhà nước về họat động kinh doanh bất động sản. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bất động sản. Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bất động sản. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Xây dựng thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bất động sản theo phân công của Chính phủ. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bất động sản trên địa bàn theo phân cấp của Chính phủ.
Theo Điều 17 luật kinh doanh bất động sản 2007 quy định xử lý vi phạm:
- Tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản không có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì bị đình chỉ hoạt động, xử phạt hành chính và truy thu thuế theo quy định của pháp luật.
- Cá nhân không có chứng chỉ môi giới bất động sản, chứng chỉ định giá bất động sản mà thực hiện môi giới bất động sản, định giá bất động sản thì bị đình chỉ hoạt động, xử phạt hành chính và không được cấp chứng chỉ trong thời hạn ba năm, kể từ ngày ra quyết định xử phạt.
- Cá nhân được cấp chứng chỉ môi giới bất động sản, chứng chỉ định giá bất động sản không thực hiện đúng nội dung chứng chỉ thì bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền; nếu tái phạm lần đầu thì còn bị đình chỉ hoạt động một năm, nếu tái phạm lần thứ hai thì còn bị thu hồi chứng chỉ và không được cấp lại trong thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định xử phạt.
- Chính phủ quy định cụ thể việc xử phạt hành chính trong hoạt động kinh doanh bất động sản.

KẾT LUẬN

Nhà nước đã tách việc đăng kí kinh doanh ra khỏi thời điểm bắt đầu kinh doanh. Điều đó có nghĩa là, sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, doanh nghiệp vẫn chưa được đi vào họat động mà chỉ khi nào đủ điều kiện kinh doanh trong thực tế, nhà nước cấp giấy phép hoặc xác nhận đủ điều kiện, doanh nghiệp mới chính thức được đi vào họat động. Việc pháp luật quy định một số ngành nghề có điều kiện để các doanh nghiệp có thể hoạt động mà không gây những tác hại, vi phạm lợi ích của cộng đồng.