Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT HÔN NHÂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT HÔN NHÂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016

THỰC TRẠNG KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM


Những năm gần đây, tình trạng phụ nữ kết hôn với người nước ngoài là những vấn đề đang gây bức xúc trong đời sống xã hội. Hàng chục ngàn phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài mỗi năm tạo nên “cơn sốt” lấy chồng ngoại. Những tổ chức môi giới tại các nước trong khu vực, đặc biệt ở  Đài Loan đang sử dụng nhiều hình thức chào mời kết hôn, rao giá cho các cuộc kết hôn với phụ nữ Việt Nam, các loại quảng cáo như thế được đăng tải một cách công khai trên báo chí hoặc nơi công cộng đang gây ra sự bất bình trong dư luận công chúng.
Các số liệu thu thập được trong những năm qua cho thấy số lượng cô gái Việt Nam kết hôn với người Đài Loan phát triển mạnh vào năm 2000 và sau đó giảm đôi chút vào năm 2001 nhưng đến 2002 lại tăng trở lại. Từ năm 2003 số cuộc kết hôn Đài - Việt có giảm hơn, trong quý I/2004 vẫn có 2.423 phụ nữ kết hôn với người Đài Loan.
Mục đích lấy chồng nước ngoài của phụ nữ này hoàn toàn tuy hoàn toàn không giống nhau nhưng hầu hết họ đều kì vọng vào sự giàu có của người chồng để có cơ hội đổi đời và có điều kiện giúp gia đình thoát khỏi cảnh bần hàn, thậm chí có những người chấp nhận lấy cả những người già yếu, tàn tật…
Hiện nay, “làn sóng” kết hôn với người nước ngoài không còn tập trung hướng đến các chàng rể Đài Loan mà đã có sự chuyển dịch sang các quốc gia khác như Hàn quốc, Singapor, Malaysia và Trung quốc. Các đường dây môi giới hôn nhân hình thành trước đây, nay đã hoạt động mang tính chuyên nghiệp hơn và mở rộng phạm vi ở cả trong nước và nước ngoài.
Phụ nữ ở Đồng bằng sông Cửu Long lấy chồng là người nước ngoài có nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là người Đài Loan. Tỷ lệ cô dâu Việt kết hôn với người Đài Loan ở các tỉnh ĐBSCL cao vượt trội so với toàn quốc. Năm 2003, cả nước có 11.358 cô gái kết hôn với người Đài Loan thì ở các tỉnh ĐBSCL là 7.285 (chiếm 64,14%). Trong đó, Cần Thơ, Đồng Tháp là những điểm nóng của tình trạng này, sau đó là  An Giang, Vĩnh Long.
Theo nguồn thông tin của Phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc tại thành phố Hồ Chí Minh, đến tháng 7 năm 2005 số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan đã lên đến khoảng 100 nghìn người.
Số liệu  thống kê của Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ cho thấy số vụ kết hôn của phụ nữ Cần Thơ với người nước ngoài ngày càng tăng, tuy nhiên, theo thời gian và cơ cấu thì các vụ kết hôn này có sự thay đổi. Từ 2000 đến 2003, trong khi số phụ nữ kết hôn với người có quốc tịch Mỹ, Canađa và Ôxtrâylia có xu hướng giảm thì số kết hôn với người Đài Loan và Hàn Quốc lại tăng lên rất nhanh (Năm 2000 có 2.502 vụ, 2001 có 2.610 vụ, năm 2002 có 2.817, năm 2003 có 3.165 vụ).
 Điểm nóng của phong trào lấy chồng Đài Loan của Cần Thơ là huyện Thốt Nốt, đặc biệt là xã Tân Lộc, nơi này còn có tên gọi là "Đảo Đài Loan”. Xã Thới Thuận cũng là điểm nóng của Thốt Nốt. Theo thống kê tại xã từ 1999-2003 đã có tới gần 45% vụ kết hôn với người Đài Loan trên tổng số các cuộc kết hôn nói chung trong xã (báo cáo của xã Thới Thuận về triển khai mô hình can thiệp tại xã Thới Thuận từ ngày 2 đến ngày 5/10/2005).
Từ  2004 đến nay, số phụ nữ kết hôn với người Đài Loan của TP Cần Thơ giảm hơn các năm trước, song tâm lý lấy chồng ngoại, hoặc mong muốn có cơ hội gả con cho người nước ngoài thì vẫn tiềm ẩn. Qua phỏng vấn lớp tập huấn Câu lạc bộ thực hiện đề án thí điểm, một số thành viên có người thân kết hôn với chú rể Đài Loan cho rằng hiện nay nhiều gia đình ở Thới Thuận đang chờ mối từ những phụ nữ (người ở xã đã lấy chồng Đài Loan) trở về giới thiệu; theo họ làm như vậy sẽ ít rủi ro hơn.
Những cô gái lấy chồng Đài Loan ở đây có độ tuổi trung bình là 22, (thấp nhất là 18 và cao nhất là 48). Trong khi đó những người chồng Đài Loan  có độ tuổi trung bình là 38, thấp nhất là 22 và cao nhất là 78. Như vậy, các cặp kết hôn có sự chênh lệch tuổi rất lớn. Bình quân người chồng lớn hơn vợ khoảng 15 tuổi. Có những cô chấp nhận kết hôn cả với những người đáng tuổi cha chú mình.
Kết quả nghiên cứu năm 2004 và qua số liệu của các cơ quan hữu trách cho thấy số phụ nữ kết hôn với người nước ngoài tại Đồng Tháp thời gian qua đã tăng đột biến. Năm 1993, Đồng Tháp chỉ có 2 vụ kết hôn với người nước ngoài, 1998 có 210 vụ gấp 100 lần so với 5 năm trước. Năm 2003 có 1736 gấp 70 lần so với 5 năm trước. Trong việc kết hôn với người nước ngoài, thì kết hôn với người Đài Loan chiếm tỷ lệ rất cao (chiếm 80,51%).

Tính từ năm 2005 đến hết năm 2010 đã có gần 300.000 công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc kết hôn với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, thuộc hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau. Theo đánh giá của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài ngày càng gia tăng. Đặc biệt, hiện tượng người Việt Nam lập gia đình với người nước ngoài thông qua các hình thức môi giới hôn nhân bất hợp pháp đang làm tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với phụ nữ Việt Nam.

“Hãy xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung”.

MỞ ĐẦU

Ngày nay, các mối quan hệ ngày càng được mở rộng, các quan niệm xã hội cũng thoáng hơn vì vậy mà xuất hiện hiện tượng nam – nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn khá phổ biến. Vấn đề phát sinh đó là việc xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản như thế nào cho thỏa đáng và đúng theo luật định khi hai bên nam nữ mong muốn chấm dứt việc sống chung. Xuất phát từ nhận thức ấy, em xin trình bày bài tập lớn học kì với đề tài: “Hãy xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung”.

NỘI DUNG

Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình - tế bào của xã hội “ gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn”[1]. Để củng cố chế độ hôn nhân và đề ra những biện pháp nhằm làm ổn định quan hệ này, Nhà nước ta đã quy định tại Điều 64 Hiến pháp năm 1992: “ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình...” Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định rõ: “Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”[2]. Có thể hiểu một cách đơn giản, hôn nhân là hai người nam – nữ đủ điều kiện theo quy định của pháp luật lấy nhau và có đăng kí kết hôn. Các điều kiện kết hôn hợp pháp được quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình: Trước hết về độ tuổi kết hôn, nam là từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 trở lên. Bên cạnh đó, việc kết hôn do nam - nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai có quyền cưỡng ép hoặc cản trở. Cuối cùng là việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc đăng kí kết hôn là nghi thức duy nhất làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Chỉ khi đăng kí kết hôn ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thì hôn nhân ấy mới được công nhận.
          Hiện nay có rất nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này. Một số quan điểm cho rằng: “ Nam nữ sống với nhau không làm hôn thú, nhưng bà con, làng xóm, gia đình hai bên đều công nhận hai người thường xuyên sống chung một nhà và con cái do họ sinh ra là của hai người….thì được xem là sống chung như vợ chồng.”
          Có quan điểm khác lại cho rằng: “ chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng lại chung sống với người khác mà mình biết rõ họ đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn duy trì quan hệ đó…”
          Một vài ý kiến khác cho rằng: “ chung sống như vợ chồng có nghĩa là:  Phải chung sống thực tế, thường xuyên trong một mái nhà, thường xuyên qua đêm công khai và được nhiều người biết đến thì mới được gọi là chung sống như vợ chồng”.         Trong xã hội hiện nay có rất nhiều cách hiểu về vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng. Theo quy định tại điểm d mục 2 thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp số 01/2001/ TTLT -TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03 tháng 01 năm 2001 thì “ được coi là nam nữ chung sống như vợ chồng khi thuộc một trong các trường hợp sau:
-          Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
-         Việc nam nữ về chung sống với nhau được gia đình ( một trong hai bên) chấp nhận;
-         Việc nam nữ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến.
-         Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình”
Dưới góc độ pháp lí thì nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn là trường hợp nam nữ đều có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng kí kết hôn. Về nguyên tắc, không đăng kí kết hôn thì không được coi là hôn nhân nhưng thực tế có những trường hợp không đăng kí kết hôn vẫn được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa hai bên. Cụ thể là tại Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/QH của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“3.Việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này được thực hiện như sau: a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng; c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.”
Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì:
“Những trường hợp quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, mà chưa đăng ký kết hôn, thì được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận tiện cho đăng ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn đối với những trường hợp này không bị hạn chế về thời gian. Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”.
Như vậy, đối với các trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987, hai bên dù không đăng kí kết hôn vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng, gọi là chung sống như vợ chồng có giá trị pháp lí. Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng kí kết hôn, không vi phạm điều kiện kết hôn nhưng không thuộc trường hợp pháp luật thừa nhận, gọi là chung sống với nhau như vợ chồng không có giá trị pháp lí. Từ ngày 01/01/2001, hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng kí kết hôn và vi phạm điều kiện kết hôn gọi là chung sống trái pháp luật.
Tuy nhiên xuất phát từ một vài lí do mà các bên không tiến hành đăng kí kết hôn. Ví dụ như ở các tỉnh miền núi, do phong tục tập quán,kết hôn chỉ cần sự chứng kiến của già làng nên việc đăng kí kết hôn khi lấy vợ lấy chồng vẫn chưa được người dân biết đến và quan tâm. Hoặc ở thành phố với lối sống “ nhà nào biết nhà đấy” và do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng tự do cá nhân đã tạo điều kiện cho việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng kí kết hôn diễn ra phổ biến. Đây chính là một đặc điểm cơ bản để phân biệt với trường hợp nam nữ không đủ điều kiện kết hôn trái pháp luật.
Đối với các trường hợp nam nữ không đủ điều kiện kết hôn hoặc kết hôn trái pháp luật, các bên nam nữ đều không đủ điều kiện kết hôn có thể là về độ tuổi, về ý chí tự nguyện hoặc vi phạm điều cấm của xã hội mà không thế đăng kí kêt hôn hoặc mặc dù có đăng kí kết hôn nhưng cũng không được công nhận là vợ chồng. Còn trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên nam nữ không hề vi phạm những điều kiện về kết hôn theo quy định của pháp luật. Về nội dung giữa hôn nhân hợp pháp với và nam nữ chung sống như vợ chồng không có sự khác nhau. Chính vì vậy, hành vi chung sống như vợ chồng của hai bên là hoàn toàn không vi phạm pháp luật.
Về mặt hình thức, nam nữ chung sống như vợ chồng là trường hợp nam nữ chung sống nhưng giữa họ không có Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan đăng kí kết hôn cấp. Điều đó có nghĩa là giữa họ trong quan hệ hôn nhân không có chứng cứ về mặt pháp lí để khẳng định họ là vợ chồng. Theo quy định của pháp luật, nam nữ chung sống như vợ chồng không được công nhận là vợ chồng. Nếu đem so sánh với hôn nhân có đăng kí thì đây là điểm khác biệt cơ bản.
Với trường hợp này nam nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng kí kết hôn được pháp luật công nhận là vợ chồng và gọi là chung sống như vợ chồng có giá trị pháp lí, được pháp luật thừa nhận và được nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho đăng kí kết hôn, không hạn chế về mặt thời gian và được miễn lệ phí đăng kí kết hôn (quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10).
Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
-Quyền và nghĩa vụ về nhân thân:
Theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm hai bên nam nữ chung sống với nhau, họ phải gắn bó với nhau bằng các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng. Họ phải chung thủy, thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Một trong hai bên không được phép kết hôn hoặc chung sống với người khác.Nếu giữa họ phát sinh mâu thuẫn và yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn để giải quyết.
-Quyền và nghĩa vụ về tài sản
Theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm hai bên nam nữ chung sống với nhau giữa họ phát sinh quyền sở hữu chung hợp nhất về tài sản. Tài sản chung của vợ chông gồm tài sản do vợ hoặc do chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung. Theo đó, kể từ thời điểm bắt đầu cuộc sống chung vợ chồng, mọi thu nhập về nghề nghiệp không phân biệt mức thu nhập của người này cao, mức thu nhập của người kia thấp, mọi tài sản mà vợ hoặc chồng tạo ra, những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng, những tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung, những tài sản riêng mà vợ, chồng nhập vào khối tài sản chung đều là tài sản chung của vợ chồng, Vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Trên cơ sở đó, trong trường hợp phải chia tài sản chung hợp nhất thì vợ chồng đều bình đẳng, được hưởng phần tài sản ngang bằng nhau trong khối tài sản chung.
-Đối với vấn đề cấp dưỡng: Trong trường hợp vợ chồng yêu cầu ly hôn thì vấn đề cấp dưỡng được đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện của cấp dưỡng. Nếu một bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng của mình. Như vậy, cấp dưỡng là nghĩa vụ gắn liền với nhân thân vợ chồng, không thể chuyển giao cho người khác.
-Quyền và nghĩa vụ đối với con chung
Cha mẹ có đầy đủ nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Cha mẹ bình đẳng với nhau trong mối quan hệ với con. Cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc yêu thương nuôi dưỡng, giáo dục các con trở thành những người công dân có ích cho xã hội. Trong trường hợp cha, mẹ không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ đóng phí tổn nuôi con. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền quản lý tài sản của con, chịu trách nhiệm về những hành vi trái pháp luật của con, phải bồi thường thiệt hại cho con theo quy định của pháp luật. Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con, pháp luật không có quy định nào khác biệt giữa trường hợp hôn nhân hợp pháp và hôn nhân trái pháp luật bởi vì con cái không phải chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm của cha mẹ chúng trong việc xác lập quan hệ hôn nhân. Mặt khác, xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ quyền lợi cha mẹ và con, các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con không thể hiện sự phân biệt đối xử giữa con trong giá thú và con ngoài giá thú.

Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng kí kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ ngày Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003.
Trong thời hạn này mà họ không đăng kí kết hôn nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn để giải quyết. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận là vợ chồng.Kể từ sau ngày 01/01/2003 họ mới đăng kí kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được xác lập kể từ ngày họ đăng kí kết hôn.Nếu sau đó có yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết theo thủ tục ly hôn ( Mục 2 điểm c Thông tư liên tịch số 01/2000/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001)
Như vậy, khác với trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 3-1-1987 từ ngày 3-1-1987 các bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà vi phạm thủ tục đăng kí kết hôn thì “buộc phải đăng kí kết hôn” và đăng kí “ trong thời hạn hai năm kể từ ngày 01/01/2001  đến ngày 01/01/2003”. Trong thời hạn các bên nam nữ có nghĩa vụ đăng kí kết hôn, chúng ta vẫn thừa nhận quan hệ  “hôn nhân thực tế” cho các trường hợp chưa đăng kí kết hôn. Đây cũng chính là cách giải quyết linh động nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên nam nữ song vẫn đảm bảo tính thống nhất của quy định “ buộc các bên phải đăng kí kết hôn”. Bởi vì nếu hết thời hạn quy định nói trên mà họ không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.
Đây là trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn kể từ ngày 01/01/2001. Pháp luật không thừa nhận mối quan hệ sống chung này là vợ chồng nên không thể áp dụng Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy khi hai người muốn chấm dứt sống chung thì việc xác định quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản là rất phức tạp.
Tuy nhiên, dù hai người không được pháp luật công nhận là vợ chồng nhưng vẫn có thể gửi đơn ra Tòa án nhân dân để yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai người, đồng thời yêu cầu tòa án phân chia tài sản theo quy định tại điểm c khoản 3  Nghị quyết số 35/2000/QH của Quốc hội. Cụ thể tại điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH của Quốc hội có nội dung như sau:
“c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ tr­ường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như  vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết”.
Về hậu quả pháp lý của việc xác lập quan hệ hôn nhân không đăng kí kết hôn.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không thừa nhận việc kết hôn không đăng kí. Theo đó, trường hợp các bên xác lập quan hệ vợ chồng nhưng không đăng kí khi có yêu cầu ly hôn Tòa án sẽ thực hiện biện pháp:
“Tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng”. Đây là một điểm khác so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Bởi vì, theo Luật Hôn nhân và gia đình 1986 các bên xác lập quan hệ vợ chồng mà không đăng kí kết hôn thì khi có yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp xử hủy việc kết hôn trái pháp luật. Nhưng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, kết hôn trái pháp luật là trường hợp các bên nam nữ kết hôn có đăng kí nhưng vi phạm điều kiện kết hôn theo luật định. Vì thế, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định hậu quả pháp lý của việc kết hôn trái pháp luật. Tòa án áp dụng quy định này để giải quyết vấn đề tài sản và con chung cho các bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân không đăng kí khi có yêu cầu.
Như vậy, từ ngày 01/01/2001 nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn hoặc theo nhưng trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng sau ngày 01/01/1987 đến ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực mà không đăng kí kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân của họ không có giá trị pháp lý. Nếu có yêu cầu giải quyết vấn đề ly hôn tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành và giải quyết như sau:
-Về mặt nhân thân: Tòa án sẽ tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng kể từ thời điểm đó họ phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng.
-Về tài sản:
Nếu các bên yêu cầu giải quyết vấn đề tài sản, tòa áp dụng khoản 3 Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết như sau:
Tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc về người đó, đương nhiên người có tài sẵn có nghĩa vụ chứng minh tài sản đó thuộc sở hữu riêng của mình. Trên cơ sở đó tòa án sẽ giải quyết việc bảo vệ quyền lợi cho người có tài sản riêng.
Đối với tài sản chung, tài sản chung được chia theo sự thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Khi các bên không thỏa thuận được và yêu cầu tòa án giải quyết, Tòa án sẽ chia tài sản chung cho hai bên có tính đến “ công sức đóng góp của mỗi bên”. Rõ ràng, tài sản chung của hai bên nam nữ ở trong trường hợp này không phải là “ chia đôi một cách bình đẳng” mà “ dấu hiệu” về mặt công sức đóng góp của hai bên vào khối tài sản chung là căn cứ quan trọng để chúng ta giải quyết việc chia. Tuy nhiên không chỉ căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên mà phải xem xét đến nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ và con: Theo quy định của Điều 17 khoản 3 thì quyền lợi của phụ nữ và con được  “ưu tiên” bảo vệ.
-Đối với con chung
Khoản 2 Điều 17 quy đinh: “ Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn”.
Theo đó, đối với trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn thì quyền lợi của các con cũng được pháp luật bảo vệ giống như khi cha mẹ ly hôn. Vì vậy, khi hai bên nam nữ bị Tòa án tuyên không công nhận là vợ chồng thì họ vẫn phải có nghĩa vụ đối với con chung. Hai bên có thể thỏa thuận về việc nuôi dưỡng con, đóng phí tổn nuôi con. Nếu hai bên không thỏa thuận được tòa án sẽ quyết định giao đứa trẻ cho một trong hai người trực tiếp nuôi dậy, người kia phải đóng phí tổn nuôi con theo quy định của pháp luật. Trường hợp con nuôi dưới 3 tuổi, Tòa án sẽ giao cho người mẹ nuôi.
Như vậy, có thể nói giải quyết về mặt pháp luật vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn là quy định quan trọng và cần thiết, tạo cơ sở pháp lý để chúng ta bảo vệ quyền lợi cho các bên đương sự khi phát sinh tranh chấp.

KẾT BÀI

Vấn đề xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung mang tính chất phức tạp và còn nhiều điểm bất cập. Hi vọng rằng sắp tới đây Luật hôn nhân và gia đình sẽ được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tiễn và việc áp dụng sẽ thuận lợi hơn.





[1] Lời nói đầu Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
[2] Khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2016

“Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này”

MỞ BÀI
    Gia đình là tế bào của xã hội được xây dựng trên cơ sở gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong đó nền tảng nhất là quan hệ hôn nhân. Cuộc sống chung của vợ chồng khi hôn nhân được xác lập luôn luôn đòi hỏi phải có một khối tài sản để chăm lo cho cuộc sống gia đình. Nhằm bảo đảm lợi ích cho vợ, chồng, tôn trọng quyền sở hữu tài sản riêng của công dân cũng như tạo cho họ có những điều kiện tốt để sản xuất kinh doanh thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã công nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng. Trong đó thì việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một căn cứ đặc biệt hình thành tài sản riêng của vợ chồng. Luật Hôn nhân và gia đình đã có những quy định khá cụ thể về vấn đề này, tuy nhiên cũng có những vướng mắc khi áp dụng trong thực tế cũng như xác định hậu quả pháp lí khi chia tài sản chung vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này sau đây em xin được đi sâu làm rõ đề bài: “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này”














NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG VÀ CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
  1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng.
    Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về sở hữu tài sản của vợ chồng bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và các trường hợp, nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định.
    Chế độ tài sản chung của vợ chồng là cơ sở pháp lí để đảm bảo và bảo vệ quyền và lợi ích của vợ chồng về tài sản, bảo vệ lợi ích của người thứ ba có quan hệ giao dịch về tài sản đối với vợ chồng, cùng với đó chế độ tài sản chung của vợ chồng còn là cơ sở pháp lí để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp.
2. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân
2.1 Khái niệm chia tài sản chung vợ chồng trong thời kì hôn nhân
       Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. “1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.
      2.Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”
    Có thể hiểu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là chuyển một phần hoặc toàn bộ các tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng thành các tài thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng, hay sở hữu chung theo phần của vợ chồng.
    Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành, trong trường hợp có lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Tòa án. Khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi. Đây là điểm khác biệt nhất của chế định này so với chế định ly thân được quy định trong pháp luật của một số nước phương Tây. Tuy nhiên quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng về tài sản đã có sự thay đổi nhiều. Theo Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 8 Nghị định 70/ 2001/NĐ-CP phần tài sản mà vợ, chồng được chia, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên trừ vợ chồng có thỏa thuận khác.
2.2. Lý do chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân
         - Do các điều kiện kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế thị trường do tính chất của công việc, nghề nghiệp của vợ chồng cần tự chủ trong các trường hợp  đầu tư kinh doanh, nếu sử dụng tài sản chung vợ chồng để đầu tư, kinh doanh sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chung của gia đình trong trường hợp việc đầu tư kinh doanh đó gặp rủi ro. Để bảo vệ quyền và lợi ích chung của gia đình cũng như tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân quyền tự do kinh doanh được pháp luật công nhận, viêc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đc luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 công nhận.
        -Do cuộc sống chung vợ chồng khó tránh khỏi những xung đột, mâu thuẫn, nhiều trường hợp chỉ muốn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng mà không muốn ly hôn mà chỉ muốn có tài sản để thực hiện việc đầu tư, kinh doanh…Đáp ứng nhu cầu này của vợ chồng nhằm mục đích xây dựng gia đình êm ấm, hạnh phúc và ổn định quan hệ xã hội, pháp luật cho phép vợ chồng có quyền chia tài sản chung ngay khi hôn nhân còn tồn tại.
        -Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba, trường hợp do vợ hoặc chồng - phía thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ mà vợ chồng không thỏa thuận được về việc lấy tài sản chung để trả nợ cho một bên thì vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân để người vợ hoặc chồng lấy phần tài sản của mình trong khối tài sản chung nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng.

  2.3. Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
        Theo quy định tại khoản 1 điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.
        Như vậy việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chỉ được đặt ra khi có yêu cầu một bên vợ hoặc chồng hoặc cả hai bên. Nếu mỗi người thấy rằng việc chia tài sản chung là cần thiết thì có thể thỏa thuận vợ chồng để chia tài sản, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.
      Nếu như vợ hoặc chồng hoặc cả hai bên có yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là điều kiện tiên quyết để vấn đề chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân được đặt ra thì để việc chia tài sản trong thời kì hôn nhân có thể được thực hiện ngoài điều kiện trên luật còn quy định vợ chồng phải có lý do chính đáng. Đây là cần thiết bởi việc chia tài sản sẽ ảnh hưởng đến khối cộng đồng tài sản, ảnh hưởng đến nền tảng kinh tế chung của gia đình, từ đó tác động đến sinh hoạt bình thường của vợ chồng, con cái, tác động đến lợi ích chung của gia đình. Chính vì thế, chỉ những điều kiện cần thiết để đáp ứng nhu cầu khách quan lợi ích của các thành viên trong gia đình thì khối cộng đồng tài sản mới được phân chia. Theo quy định của luật thì những lý do để vợ chồng có thể yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân bao gồm:
      - Trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng: xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, nếu một trong hai vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ chồng có tài sản riêng làm vốn đầu tư kinh doanh. Mặt khác, quy định này còn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, bảo đảm cuộc sống ổn định của các thành viên trong gia đình tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động đầu tư kinh doanh gây ra.
     - Trường hợp vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: Nếu vợ (chồng) phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì vợ chồng có thể chia tài sản chung để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình.
    - Trường hợp có lí do chính đáng khác: Việc xác định có lý do chính đáng để chia tài sản chung của vợ chồng thì khi hôn nhân tồn tại là xuất phát từ lợi ích của gia đình, lợi ích của vợ chồng hoặc của người thứ ba. Vì vậy, lí do chính đáng khác để chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại tùy từng trường hợp có khác nhau.
     Tuy nhiên, bên cạnh đó thì luật Hôn nhân và gia đình đã dự liệu trước trường hợp vợ chồng có thể lạm dụng quyền của mình trong việc chia tài sản chung gây hậu quả xấu, xâm phạm đến các lợi ích khác được pháp luật bảo vệ. Vì thế, khoản 2 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định: “2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”
2.4. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
    - Trường hợp chia theo thỏa thuận của vợ chồng bằng văn bản
    Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung”. Nếu vợ chồng thỏa thuận được trong việc chia tài sản thì sư thỏa thuận đó được lập thành văn bản và được Nhà nước công nhận. Theo điều 6 Nghị định 70/2001/NĐ-CP quy định văn bản thỏa thuận của vợ chồng về chia tài sản chung phải đáp ứng được những yêu cầu sau đây:  Lý do chia tài sản; Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; Phần tài sản còn lại không chia, nếu có; Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; Các nội dung khác, nếu có;  Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thoả thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
  

    - Trường hợp vợ chồng yêu cầu tòa án chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân.
    Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên ngang nhau cách hữu hiệu nhất là chia đôi khối tài sản cần chia. Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân nếu không có hoặc không thỏa thuận được. Theo đó, khi chia tài sản chung, Tòa án căn cứ vào lý do, mục đích chia tài sản chung để quyết định phạm vi tài sản chung cần chia. Việc chia tài sản chung căn cứ vào các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình; nếu các tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất thì áp dụng các quy định tại điều 97, điều 98, điều 99 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
II. HẬU QUẢ PHÁP LÍ CỦA VIỆC CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN.
   1.Quan hệ về nhân thân.
    Quan hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về các lợi ích nhân thân. Đó là các quan hệ như: Quan hệ giữa vợ và chồng về sự yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau; về việc xác định chỗ ở chung; quan hệ giữa cha mẹ và các con về việc xác định chế độ pháp lý nhân thân của con chưa thành niên…
    Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại điều 29 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quan hệ vợ chồng vẫn tồn tại trước pháp luật, vợ chồng có thể sống chung hoặc riêng nhưng các quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng vẫn được đảm bảo thực hiện. Theo đó các quyền nhân thân giữa vợ và chồng với tư cách là công dân: quyền đối với họ tên, quyền xác định lại dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Các quyền và nghĩa vụ phát sinh nhân thân giữa vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn vẫn được duy trì không thay đổi so với trước khi chia tài sản chung vợ chồng. Theo quy định tại điều 18 Luật hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững”. Mặc dù chia tài sản chung nhưng quan hệ hôn nhân vẫn chưa chấm dứt nên vợ chồng vẫn có quyền hạn và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình: vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng và giữu gìn danh dự, nhân phẩm và uy tín cho nhau (Điều 21); vợ chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau, không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Điều 22); Vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng; việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó ( Điều 24); Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế. Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.(Điều 3).
    Tuy nhiên việc quy định vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không phải gián tiếp quy định chế độ ly thân. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam không quy định chế định ly thân. Ly thân được hiểu là một chế định pháp luật và là một thuật ngữ pháp lý để chỉ trường hợp vợ chồng phải sống riêng rẽ và tách bạch về tài sản mà pháp luật nhiều nước tư sản và hệ thống pháp luật hôn nhân gia đình dưới chế độ cũ ở nước ta quy định. Có thể thấy rằng, mặc dù có nhiều điểm tương đồng với chế định ly thân dưới chế độ phong kiến, thực dân nhưng việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân cũng có những điểm khác biệt căn bản. Cụ thể là:
    Thứ nhất, nếu các lý do chính đáng là 1 trong những căn cứ  để vợ chồng  có thể chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thì lí do ly thân trong chế độ cũ chỉ dựa vào yếu tố lỗi làm căn cứ để tòa án giải quyết li thân.
    Thứ hai, ly thân đặt vợ chồng vào tình trạng sống tách biệt nhau, không có đời sống chung nhưng chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không nhất thiết phải như vậy. Sau khi chia tài sản chung việc vợ chồng ở chung hay riêng là quyền của họ, pháp luật không can thiệp. Hơn nữa, chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân vợ chồng có quyền thỏa thuận chia 1 phần hoặc toàn bộ tài sản chung, do vậy chế độ sở hữu chung của vợ chồng không chấm dứt nhưng ly thân sẽ đặt vợ chồng vào tình trạng biệt sản.
    Tóm lại việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không làm thay đổi mối quan hệ nhân thân giữa các thành viên trong gia đình nhưng trong một số trường hợp ngoại lệ thì nó cũng có thể làm thay đổi một số quan hệ nhân thân trong gia đình như vợ chồng ly hôn, lẩn tránh trách nhiệm nuôi dưỡng con cái. Vì thế, pháp luật cần có những quy định cụ thể và quan tâm hơn đến vấn đề này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con cái theo quy định của pháp luật hiện hành.
2. Quan hệ về tài sản
      Quan hệ tài sản là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về lợi ích tài sản. Đó là những quan hệ như: Quan hệ cấp dưỡng lẫn nhau giữa vợ chồng; giữa cha mẹ với các con; giữa các thành viên khác trong gia đình, quan hệ về sở hữu giữa vợ và chồng…
       Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, quan hệ nhân thân của vợ chồng không có gì thay đổi. Tuy nhiên theo quy định tại điều 30 Luật hôn nhân và gia đình: “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng”. Căn cứ vào quy định tại Điều 30 thì quan hệ tài sản của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã có sự thay đổi. Chế độ cộng đồng tài sản dưới hình thức sở hữu chung chấm dứt, thay vào đó hình thành hai chủ sở hữu với hai khối tài sản riêng biệt. Vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia toàn bộ hoặc một phần tài sản chung. Nếu chia toàn bộ tài sản chung thì phần của mỗi người sau khi chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu chung của mỗi người. Nếu chia một phần tài sản trong khối tài sản chung thì chỉ có một phần tài sản đã được chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia mới là tài sản riêng của mỗi người. Phần tài sản chung còn lại không chia vẫn thuộc khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ khối tài sản chung đương nhiên thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân thì những thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi bên vợ, chồng là tài sản riêng của vợ chồng. Cụ thể, tại điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ- CP quy định về hậu quả chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân:“1. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.
   Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ, chồng”.
      Quy định này giúp cho việc phân định tài sản riêng của vợ chồng trở nên rõ ràng, minh bạch, tránh xảy ra tranh chấp về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, sau khi chia tài sản riêng của vợ chồng quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại. Đây là điểm khác biệt so với việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
      Hơn nữa, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, do vậy theo quy định tại điều 27 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì  tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung hay thừa kế chung trong thời gian này vẫn đc coi là tài sản chung của vợ chồng: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”.
      Không chỉ vậy, theo quy định tại điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 24, Điều 26 Nghị định 70/2001/ NĐ- CP:  Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. Sau khi chia tài sản quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại vì vậy tài sản (quyền sử dụng đất) phát sinh trong thời kì hôn nhân đương nhiên thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ hoặc chồng có được sau khi chia tài sản chung do Nhà nước giao, giao khoán hoặc được thuê của Nhà nước…Tuy nhiên, không phải trong bất kì trường hợp nào quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ chồng có được cũng thuộc phần tài sản chung của vợ chồng. Cụ thể, sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thì quyền sử dụng đất mà mỗi bên có được chỉ là phần tài sản chung của vợ chồng nếu nó không liên quan đến lý do chia tài sản chung của vợ chồng.
       Một vấn đề rất quan trọng nữa là tài sản mà vợ chồng làm ra sau khi chia tài sản chung như: tiền lương, tiền công lao động…là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của mỗi bên. Tại khoản 2 điều 8 Nghị định 70/ 2001/ NĐ-CP quy định như sau: “Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác”. Như vậy, sau khi chia tài sản mỗi người độc lập với nhau về thu nhập hợp pháp của mình, phần thu nhập đó sẽ không thuộc phần tài sản chung của vợ chồng mà thuộc phần tài sản riêng của mỗi người.
       Bên cạnh các quy định về điều kiện, nguyên tắc, hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kì hôn nhân, pháp luật hiện hành còn quy định việc khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng (điều 9 Nghị định 70/2001/NĐ-CP). “1. Trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung và sau đó muốn khôi phục chế độ tài sản chung, thì vợ chồng phải thoả thuận bằng văn bản có ghi rõ các nội dung sau đây:
a) Lý do khôi phục chế độ tài sản chung;
b) Phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên;
c) Phần tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, nếu có;
d) Thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung;
đ) Các nội dung khác, nếu có.
2. Văn bản thoả thuận phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thoả thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
     Theo đó, trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung và sau đó muốn khôi phục chế độ tài sản chung thì vợ chồng phải thỏa thuận bằng văn bản và ghi rõ các nội dung như: lý do khôi phục chế độ tài sản chung, phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, phần tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ chồng, thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung…
    Khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng sau khi đã chia tài sản không chỉ là thỏa thuận của vợ chồng xem xét những tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng mà ở đây cần phải hiểu khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng là: “khôi phục căn cứ pháp lý để xác lập tài sản chung của vợ chồng”. Bởi vì, theo nguyên tắc chung những tài sản mà vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh…trong thời kì hôn nhân (trừ nguồn gốc tài sản riêng) thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Căn cứ này đã tạm chấm dứt khi vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân (Điều 30 Luật HN- GĐ năm 2000; Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP). Sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân thì những tài sản mà vợ chồng được chia từ khối tài sản chung; các hoa lợi, lợi tức từ tài sản được chia; thu nhập do hoạt động sản xuất kinh doanh và các thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ chồng. Nay khôi phục chế độ tài sản chung vợ chồng, căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 phải được áp dụng.
      Đây là một vấn đề rất quan trọng, vì nó là cơ sở pháp lý để xác lập tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp của vợ chồng với nhau và với người khác.

III. Một số giải pháp hoàn thiện chia tài sản chung vợ chông trong thời kì hôn nhân.
       Thứ nhất, theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình hiện hành chỉ công nhận vợ chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung trong hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ 3 trong trường hợp này không được thừa nhận là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, nếu áp dụng quy định này vào thực tiễn vẫn có những bất cập cần có sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo quy định của pháp luật, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ. Tài sản chung của vợ chồng không được sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này, trừ trường hơp đã có sự thỏa thuận. Vậy vấn đề đặt ra là người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán để thanh tóan các khoản nợ và vợ, chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trong trường hợp này, pháp luật cần quy định rõ chủ thể thứ ba có quyền và lợi ích liên quan đến tài sản của vợ chồng có quyền yều cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Tuy nhiên nếu việc đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình người có nghĩa vụ thì tòa án cần xem xét không chấp nhận yêu cầu của người thứ ba.
    Thứ hai, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định việc chia tài sản chung vợ chồng không làm thay đổi mối quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con. Thực tế, việc vợ chồng áp dụng quy định này đã phản ánh những mâu thuẫn trong quan hệ giữa họ. Sự độc lập về tài sản sau khi chia tài sản chung có thể dẫn đến vợ chồng sống ly thân hoặc một trong hai bên trốn tranh trách nhiệm với gia đình, từ đó phát sinh tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các con, pháp luật cần quy định rõ: Trong trường hợp sau khi chia tài sản chung vợ chồng có những tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình thì Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng, của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến con áp dụng tương tự quy định quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con khi ly hôn.
    Thứ ba, trước đây căn cứ để giải quyết các tranh chấp phát sinh về tài sản giữa vợ chồng thì Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định: “Khi hôn nhân còn tồn tại, nếu một bên có yêu cầu hoặc lý do chính đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của luật này”. Tuy nhiên, theo luật Hôn nhân và gia đình hiện nay chưa có quy định cụ thể về vấn đề này khiến cho Tòa án nhiều khi cũng gặp phải khó khăn khi vận dụng các căn cứ pháp lí để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Chính vì thế pháp luật cần quy định cụ thể như sau: Khi chia tài sản chung, Tòa án căn cứ vào lý do, mục đích chia tài sản chung để quyết định phạm vi tài sản chung được chia. Việc chia tài sản chung căn cứ vào các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn quy định tại Điều 95 Luật HN- GĐ; nếu tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất thì áp dụng các quy định tại Điều 97, Điều 98, Điều 99 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
    Thứ tư, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định 70/ 2001/NĐ-CP quy định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên luật Hôn nhân và gia đình lại không quy định ai là người có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân trong trường hợp thỏa thuận này vi phạm các điều kiện được quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Mặt khác, luật Hôn nhân và gia đình cũng không quy định rõ hậu quả pháp lý của việc tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận chia tài sản chung. Vì vậy, pháp luật cần quy định rõ: Trong trường hợp thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà bị Tòa án tuyên là vô hiệu, chế độ tài sản chung của vợ chồng được khôi phục lại ban đầu trước khi có thỏa thuận chia tài sản chung.
    Thứ năm, quy định trong thời kì hôn nhân nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không quy định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một quy định quá mở. Do đó, để phát huy mục đích, ý nghĩa của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân cần bổ sung vào khoản 1 Điều 6 Nghị Định 70/ 2001/ NĐ-CP một nội dung bắt buộc trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng là: Tài sản bảo đảm cho các nhu cầu chung của gia đình. Bên cạnh đó cần phải quy định cụ thể: Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận dược việc bảo đảm các nhu cầu chung của gia đình thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án quyết định mức đóng góp giữa các bên trên cơ sở nhu cầu thực tế của gia đình và khả năng kinh tế của các bên và quyết định không chia toàn bộ tài sản chung, tài sản chung không chia phục vụ cho nhu cầu của gia đình.
    Thứ sáu, tại Điều 9 và Điều 10 Nghị định 70/ 2001/ NĐ- CP trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận bằng văn bản về khôi phục chế độ tài sản chung, thì kể từ ngày văn bản khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực việc xác định tài sản riêng của mỗi bên và tài sản chung của hai vợ chồng căn cứ vào sự thỏa thuận giữa hai bên. Như vậy cho thấy rằng: việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân và khội phục tài sản chung mà không cần sự xem xét của Tòa án đã dẫ đến sự mâu thuẫn với Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó khi thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, những tài sản có nguồn gốc được quy định tại điều 27 phải được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng. Pháp luật chỉ nên trao cho vợ, chồng quyền thỏa thuận về tài sản chung đối với những tài sản riêng được quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
    Ngoài ra, không ngừng nâng cao trình độ năng lực đội ngũ cán bộ áp dụng pháp luật về chia tài sản chung; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân.


KẾT LUẬN.
       Tóm lại, quan hệ tài sản giữa vợ chồng là vấn đề hết sức quan trọng, là một trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần cho gia đình.  Khi xã hội ngày càng phát triển kéo theo hàng loạt các vấn đề khác nảy sinh nhất là trong quan hệ tài sản vợ chồng. Việc pháp luật quy định vợ chồng được phép chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là một giải pháp hay trong nền kinh tế hiện nay. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm đã đạt được thì quy định này vẫn còn một số điểm thiếu sót mà cần phải bổ sung hơn nữa trong thời gian tới. Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà làm luật phải tiếp tục nghiên cứu, học hỏi để nhanh chóng hoàn thiện những lỗ hổng của pháp luật nhằm tạo ra một khung pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các tranh chấp đang diễn ra ngày càng gay gắt trong cuộc sống mỗi gia đình hiện nay.