Hiển thị các bài đăng có nhãn DÂN SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DÂN SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

BÀI TẬP NHÓM DÂN SỰ


Đề bài số 04:


Anh A là người đang học nghề tại cơ sở sửa chữa xe máy của ông B. Trong giấy phép thì cơ sở này không được quyền dạy nghề nhưng thực tế, vì ông B là một thợ có tay nghề cứng và rất giỏi nên ông vẫn thường xuyên nhận dạy nghề cho những người có nhu cầu như anh A. Trong 1 lần, anh A được giao sửa 1 chiếc xe SH của anh C. Anh A đã sửa xong và có điện thoại hẹn anh C 4 giờ chiều ngày 20/6/2013 đến lấy. Quá giờ hẹn, không thấy anh C đến lấy nên anh A đợi thêm 2 tiếng nữa. Đến 6 giờ tối cũng không thấy anh C đến, sợ để xe ở xưởng sữa chữa không yên tâm vì xe có giá trị lớn nên anh A mang xe anh C về nhà. Trên đường về, qua đoạn ngã tư, do D lái xe vượt đèn đỏ đâm vào anh A đang đi xe SH của anh C làm xe bị hư hỏng nặng, sửa chữa mất khoảng 15 triệu. Sáng sớm hôm sau, anh C đến lấy xe thì thấy xe hỏng, bực mình quá anh yêu cầu ông B bồi thường. Ông B thì giải thích rằng ông không cho phép anh A đi xe về và kể cả việc mang xe anh C về của anh A ông cũng không biết nên ông không có trách nhiệm. Hơn nữa, lúc đó cũng không còn là giờ làm việc, học việc nữa nên ông không có trách nhiệm. Về phía anh A, anh bảo anh không có lỗi, do D vi phạm luật giao thông nên đương nhiên D phải có trách nhiệm bồi thường cho anh C. Vậy, hỏi nhóm:
1.       Trường hợp bồi thường này là bồi thường ngoài hợp đồng hay bồi thường do vi phạm hợp đồng sửa chữa xe máy mà anh C giao kết với cơ sở của ông B?
2.       Để bảo vệ quyền lợi cho mình, anh C cần phải làm những gì?
3.       Nếu nhóm là cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhóm áp dụng quy định pháp luật nào để giải quyết và giải quyết như thế nào?
4.       Có cần sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh quy định pháp luật nào để giải quyết tình huống này hợp lý hơn không?



Lời mở đầu

Hiện nay, trên thực tế, có nhiều trường hợp, tình huống xảy ra trong đời sống chúng ta đều liên quan đến những trách nhiệm bồi thường trong luật dân sự, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc pháp luật quy định về trách nhiệm bồi thường cũng như các điều luật các liên quan đã phần nào giải quyết, đáp ứng được các tình huống thực tế song vẫn còn nhiều bất cập. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm B1 chúng em xin chọn đề số 4: đề tình huống để hoàn thành bài tập nhóm tháng 2 môn Luật Dân sự Việt Nam (tập 2).

Phần 1. Nội dung.

Sau đây, nhóm chúng em xin giải quyết bốn yêu cầu của tình huống:
1.     Trường hợp bồi thường này là bồi thường ngoài hợp đồng.
Trong trường hợp này, để xác định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay bồi thường do hành vi vi phạm hợp đồng sửa chữa xe máy cần phân tích hành vi của các chủ thể. Xem hành vi nào là vi phạm hợp đồng, hành vi nào vi phạm pháp luật, hành vi nào gây thiệt hại thực tế, từ đó mới có căn cứ để xác định tính chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này.
Thứ nhất, về phía ông B, cơ sở sửa chữa xe máy của ông không có giấy phép dạy nghề vì vậy trên thực tế anh A theo học và làm việc ở cơ sở của ông không phải việc học nghề theo quy định của pháp luật, tức là pháp luật không thừa nhận anh A là người học nghề của cơ sở này. Anh A không có bằng cấp về sửa chữa xe máy. Khoản 2, 3 điều 522 BLDS năm 2005 quy định về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ, theo đó bên cung ứng dịch vụ “không được giao cho người khác thực hiện thay công việc nếu không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ”; “bảo quản và phải giao lại cho bên thuê dịch vụ tài liệu và phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc”. Trong vụ việc này, khi ông B giao cho anh A sửa xe SH của anh C là vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng dịch vụ còn việc bảo quản và trả lại tài sản phát sinh từ việc chậm trễ của anh C và hành vi của anh A nên việc xe bị tai nạn và hư hỏng không có lỗi của ông B. Theo khoản 2 điều 521BLDS năm 2005: “Trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Tuy nhiên, hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng của ông B không gây thiệt hại thực tế do vậy không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Thứ hai, về hành vi của anh A tự ý mang xe anh C về nhà. Trong vụ việc có nêu rõ, việc anh A mang xe về nhà là do đã quá thời hạn nhận xe theo thỏa thuận hơn 2 tiếng mà anh C chưa đến, hành vi mang xe của anh C về nhà mình hoàn toàn do không yên tâm vì khối tài sản quá lớn. Theo quy định điều 594 BLDS 2005 có thể khẳng định trong trường hợp này anh A thực hiện công việc không có ủy quyền, việc tự ý mang xe của anh C về không vi phạm quy định của pháp luật.
Thứ ba, trong thời gian anh A thực hiện công việc không có ủy quyền, D lái xe vượt đèn đỏ đâm vào anh A đang đi xe SH của anh C làm xe bị hỏng nặng sửa chữa mất khoảng 15 triệu đồng. Điều 597 BLDS năm 2005 có quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thực hiện công việc không có ủy quyền gây ra, tuy nhiên việc thiệt hại không do lỗi của anh A nên không hình thành trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này.
Thứ tư, về hành vi của anh D.
-                     Anh D đã gây thiệt hại cho xe của anh C, thiệt hại này đã xảy ra trên thực tế  gây tổn thất cho tài sản là chiếc xe máy SH thuộc sở hữu của anh C và xác định được số tiền để sửa chữa chiếc xe máy bị đâm là khoảng 15 triệu đồng.
-                     Anh D đã thực hiện một hành vi trái pháp luật là vượt đèn đỏ, vi phạm luật giao thông.
-                     Hành vi trái pháp luật của anh D là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới thiệt hại cho chiếc xe SH của anh C và thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vượt đèn đỏ của anh D. Nếu D không vượt đèn đỏ thì chiếc xe SH của anh C mà anh A đi sẽ không bị hỏng. nói cách khác, việc hỏng xe SH của anh C nằm ngoài ý chí của anh A.
-                     Vấn đề lỗi, ở đây anh D là người có lỗi. Có thể anh D đã thấy trước được hành vi vượt đèn đỏ của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được do đó D vẫn thực hiện hành vi vượt đèn đỏ.
Từ những căn cứ trên, trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng pháp sinh giữa anh D và anh C, hai người này không có quan hệ hợp đồng nhưng D đã gây thiệt hại cho tài sản thuộc sở hữu của anh C là chiếc xe máy SH khi anh A lái chiếc xe máy này về nhà vì sợ để lại xưởng sửa chữa không yên tâm do anh C không tới lấy xe đúng thời gian đã hẹn với anh A.
2.     Để bảo vệ quyền lợi của mình, anh C cần làm những gì?
 C giao cho cơ sở sữa chữa xe máy của ông B sửa chữa chiếc xe máy SH của mình và B đã nhận sửa chữa. Căn cứ vào điều 518 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.” và điều 519 Bộ luật dân sự năm 2005: “ Đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội” thì đây là một hợp đồng dịch vụ và C là bên thuê dịch vụ; B là bên cung ứng dịch vụ.
Trong giấy phép kinh doanh thì cơ sở sữa chữa xe máy của ông B không được quyền dạy nghề nhưng thực tế thì ông B thường xuyên nhận dạy nghề cho những người có nhu cầu như anh A và anh A đã được ông B giao cho sửa chiếc xe SH của C. Như vậy, có thể thấy rằng, theo quy định của pháp luật thì A không phải là người thuộc bên cung ứng dịch vụ. Căn cứ vào khoản 2 điều 522 Bộ luật Dân sự  năm 2005 về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ: “Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc, nếu không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ” thì  việc ông B giao cho A sửa chữa chiếc xe của C mà chưa được sự đồng ý của C là vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng với C.
Do D vượt đèn đỏ, đâm vào chiếc xe của C làm xe bị hư hỏng nặng, sửa chữa hết khoảng 15 triệu. Theo quy định tại điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
 “1.Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.   
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.” 
Và theo hướng dẫn tại nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm: Thứ nhất, có hành vi trái pháp luật - những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe,danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác. Chỉ những quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ thì các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích đó mới là hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp đều là hành vi trái pháp luật bởi trên thực tế cũng như dưới giác độ pháp lý, có những hành vi xâm phạm đén quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nhưng được pháp luật cho phép thực hiện hoặc bắt buộc phải thực hiện. (Điều 262, khoản 1 Điều 614 BLDS 2005)
          Thứ hai, phải có thiệt hại xảy ra. Đây là điều kiện tiên quyết của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và cũng là một điểm khác biệt so với trách nhiệm theo hợp đồng. Trong hợp đồng các bên có thể thỏa thuận việc vi phạm khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mà không cần chứng minh có thiệt hại xảy ra hay không. Trái lại,trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bên bị thiệt hại bắt buộc phải chứng minh thiệt hại xảy ra. Nếu không có thiệt hại thì mặc dù có hành vi vi phạm pháp luật cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường mặc dù có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý khác.
          Thứ ba, người có hành vi vi phạm pháp luật phải có lỗi. Lỗi bao gồm lỗi cố ý hoặc vô ý. Tuy là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  ngoài hợp đồng nhưng vì hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó luôn bị suy đoán là có lỗi nên vẫn phải bồi thường thiệt hại. Và lỗi không phải là yếu tố quan trọng  để quy kết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
          Thứ tư, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật, tức là hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hại mới phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể rất khó xác định mối quan hệ  nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại, đặc biệt là đối với trường hợp gây ô nhiễm môi trường.
Trong trường hợp này, do D vượt đèn đỏ đâm vào A nên lỗi hoàn toàn là của D. Hành vi trái pháp luật của D là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại xảy ra cho C: chiếc xe hư hỏng nặng phải sửa chữa mất 15 triệu đồng. Dựa vào các căn cứ nên trên, D phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho C. Để đảm bảo quyền lợi cho mình, C có quyền yêu cầu D phải bồi thường thiệt hại cho mình.
3.     Cách giải quyết của nhóm.
tt Để bảo vệ quyền lợi cho C thì trước hết phải làm rõ mối quan hệ giữa các chủ thể. Từ đó có thể thấy được quyền và lợi ích hợp pháp của anh C, đồng thời đưa ra cách thức để anh C bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ nhất là mối quan hệ giữa anh C và ông B. Anh C giao cho cơ sở sữa chữa xe máy của ông B sửa chữa chiếc xe máy SH của mình và B đã nhận sửa chữa. Căn cứ vào điều 518 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.” và điều 519 Bộ luật dân sự năm 2005: “ Đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội” thì đây là một hợp đồng dịch vụ. Như vậy, C và B là hai bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng, trong đó C là bên thuê dịch vụ; B là bên cung ứng dịch vụ.
Thứ hai là mối quan hệ giữa anh A và ông B. Trong giấy phép kinh doanh thì cơ sở sữa chữa xe máy của ông B không được quyền dạy nghề nhưng thực tế thì ông B thường xuyên nhận dạy nghề cho những người có nhu cầu như anh A và anh A đã được ông B giao cho sửa chiếc xe SH của C. Hơn nữa, đề bài cũng không đề cập tới hợp đồng lao động giữa A và B nên anh A không được xác định là người làm công của C (vì nếu có hợp đồng lao động thì việc B dạy nghề cho A coi như là đang đào tạo A để làm việc cho mình). Như vậy, có thể thấy rằng, theo quy định của pháp luật thì A không phải là người thuộc bên cung ứng dịch vụ.
Căn cứ vào khoản 2 điều 522 Bộ luật Dân sự  năm 2005 về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ: “Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc, nếu không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ” thì  việc ông B giao cho A sửa chữa chiếc xe của C mà chưa được sự đồng ý của C là vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng với C.
Thứ ba là mối quan hệ giữa anh C và anh A. Theo dữ kiện của để bài:  Anh A đã sửa xong và hẹn anh C 4 giờ chiều ngày 20/6/2013 đến lấy. Quá giờ hẹn không thấy anh C đến lấy nên anh A đợi thêm 2 tiếng nữa. Đến 6 giờ tối cũng không thấy anh C đến, sợ để xe ở xưởng sửa chữa không yên tâm vì xe có giá trị lớn nên A mang xe của anh C về nhà. Căn cứ vào điều 594 BLDS 2005: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối” thì A được xác định là người thực hiện công việc không có ủy quyền. Trong trường hợp A chưa đủ điều kiện để điều khiển xe SH của anh C thì A cũng có lỗi, vi phạm nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền (khoản 1 điều 595: “Người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng điều kiện của mình”). A hoàn toàn có khả năng lựa chọn hành vi, thay vì mang xe về nhà thì A có thể báo cho chủ cơ sở sửa chữa xe là ông B để hỏi ý kiến, chiếc xe SH của C sẽ trông giữ và bảo quản ngay tại cơ sở sửa chữa của ông B.
Thứ 4 là mối quan hệ giữa A và D, giữa D và C.
Do D lái xe vượt đèn đỏ đâm vào anh A đang đi chiếc xe SH của anh C làm xe bị hư hỏng nặng, sửa chữa hết khoảng 15 triệu. Anh A là người đang trực tiếp chiếm hữu và sử dụng chiếc xe SH và đã bị D đâm vào. Anh C là chủ sở hữu của chiếc xe SH.
 Theo quy định tại điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
 “1.Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường…”
Và theo hướng dẫn tại nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm:
Một là, có hành vi trái pháp luật - những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe,danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác. Chỉ những quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ thì các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích đó mới là hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp đều là hành vi trái pháp luật bởi trên thực tế cũng như dưới giác độ pháp lý, có những hành vi xâm phạm đén quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nhưng được pháp luật cho phép thực hiện hoặc bắt buộc phải thực hiện. (Điều 262, khoản 1 Điều 614 BLDS 2005)
          Hai là, phải có thiệt hại xảy ra. Đây là điều kiện tiên quyết của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và cũng là một điểm khác biệt so với trách nhiệm theo hợp đồng. Trong hợp đồng các bên có thể thỏa thuận việc vi phạm khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mà không cần chứng minh có thiệt hại xảy ra hay không. Trái lại,trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bên bị thiệt hại bắt buộc phải chứng minh thiệt hại xảy ra. Nếu không có thiệt hại thì mặc dù có hành vi vi phạm pháp luật cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường mặc dù có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý khác.
          Ba là, người có hành vi vi phạm pháp luật phải có lỗi. Lỗi bao gồm lỗi cố ý hoặc vô ý. Tuy là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  ngoài hợp đồng nhưng vì hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó luôn bị suy đoán là có lỗi nên vẫn phải bồi thường thiệt hại. Và lỗi không phải là yếu tố quan trọng  để quy kết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
          Bốn là, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật, tức là hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hại mới phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể rất khó xác định mối quan hệ  nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại, đặc biệt là đối với trường hợp gây ô nhiễm môi trường.
Trong trường hợp này, do D vượt đèn đỏ đâm vào A nên lỗi hoàn toàn là của D. Hành vi trái pháp luật của D là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại xảy ra cho C: chiếc xe hư hỏng nặng phải sửa chữa mất 15 triệu đồng. Dựa vào các căn cứ nên trên, D phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho C.
Căn cứ vào khoản 2, khoản 5 phần 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
“2.1. Khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 605 BLDS. Cần phải tôn trọng thỏa thuận của các bên về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội.”; 5.1 a, “Người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường thiệt hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại”
          Như vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình, anh C sẽ đưa ra các giấy tờ chứng minh mình là chủ sở hữu chiếc xe SH mà D gây thiệt hại, yêu cầu anh D bồi thường thiệt hại cho mình, thỏa thuận với anh D về mức bồi thường, hình thức và phương thức bồi thường. Trong trường hợp khả năng tài chính của anh D thấp, không đủ khả năng để bồi thường thiệt hại cho anh C, để đảm bảo quyền và lợi ích của mình một cách kịp thời và toàn bộ thì anh C có thể đến gặp ông B – bên cung ứng dịch vụ sửa chữa xe và anh A người trực tiếp điều khiển xe SH bị thiệt hại để thỏa thuận về việc yêu cầu ông B, anh A thực hiện việc bồi thường thiệt hại cho trước sau đó anh D phải hoàn trả lại khoản tiền đó. Theo đó, anh C sẽ đưa ra những thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ cũng như nghĩa vụ của hai bên khi tham gia quan hệ hợp đông này làm lí do, căn cứ để yêu cầu ông B, anh A bồi thường thiệt hại cho anh. Anh C sẽ lập luận là anh C đã giao chiếc xe SH cho ông B yêu cầu sửa chữa thì ông B phải có nghĩa vụ giao lại chiếc xe ít nhất là chiếc xe ở tình trạng ban đầu; anh C thừa nhận lỗi không nhận xe đúng giờ hẹn (vì có những công việc khẩn cấp, bị tai nạn,…) nhưng không chấp nhận nhận lại phương tiện là chiếc xe SH đã bị hư hỏng và cũng không đồng ý cho anh A (không phải người của bên cung ứng dịch vụ) sửa chữa cho chiếc xe SH của mình, yêu cầu ông B phải bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau thì anh C làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết. Anh C phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị thiệt hại do không có phương tiện đi lại. Anh C cần cung cấp cho tòa về các thông tin liên quan đến hợp đồng dịch vụ giữa anh C và ông B. Tòa án sẽ dựa vào các căn cứ các bên cung cấp (việc chứng minh không có lỗi thuộc nghĩa vụ của người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại) và xem xét sự việc thực tế, về mức độ phù hợp của hành vi anh A mang xe SH về nhà, từ đó có thể yêu cầu ông Bvà anh A bồi thường thiệt hại cho anh C; anh D có nghĩa vụ hoàn trả cho ông B và anh A.


4.                 Cần sửa đổi bổ sung quy định của pháp luật để giải quyết tình huống này hợp lý hơn.
  Với những quy định của pháp luật hiện hành, TNBTTHNHĐ nói chung và BTTH do người làm công, người học nghề gây ra còn khá nhiều bất cập dẫn đến những tồn tại vướng mắc trong thực tiễn áp dụng như:
Thứ nhất, về các hạn chế của pháp luật xung quanh trách nhiệm bồi thường của người làm công.
Những quy định của pháp luật chưa đầy đủ, hơn nữa lại không có bất kì một văn bản hướng dẫn nào về vấn đề BTTH do người làm công, người học nghề gây ra. Pháp luật dân sự hiện hành chưa đưa ra khái niệm người làm công, người học nghề cũng như TNBTTh do người làm công, người học nghề gây ra. Điều kiện để áp dụng Điều 622 là người gây thiệt hại phải là “người làm công, người học nghề” nhưng BLDS lại không định nghĩa về thuật ngữ này. Phân tích một số hoàn cảnh ta thấy khái niệm người làm công, người học nghề đôi khi rất khó nhận biết, đặc biệt là khái niệm người làm công. Người làm công là người thực hiện một công việc cho người khác. Nhưng không phải cứ làm một công việc cho người khác thì là người làm công. Như thực hiện công việc không có ủy quyền là làm công việc cho người khác mà việc thuwch hiện công việc không nhận được “ mệnh lệnh” hay chỉ dẫn của ai. Hay khái niệm “công việc được giao” một khái niệm khá cần thiết để có cơ sở xác định chủ thể có trách nhiện bồi thường cũng không được quy định
Bên cạnh đó pháp luật cũng chưa quy định về nghĩa vụ hoàn trả của người làm công người học nghề gây ra, điều kiện áp dụng TNBTTH do người làm công, người học nghề gay ra chưa rõ ràng. Theo quy định của BLDS năm 2005 người sử dụng người làm công, người học nghề được yêu cầu hoàn trả một khoản tiền  khi người làm công, người học nghề “có lỗi trong việc gay thiệt hại”. Do vậy, nếu họ không có lỗi thì không phải hoàn trả. Tuy nhiên BLDS lại không quy định “lỗi” ở đây là gì? Lỗi có thể hiểu theo hai cách. Thứ nhất là lỗi so với người bị thiệt hại. thứ hai là lỗi được đánh giá từ góc độ quan hệ giữa người làm công và người được giao công việc. Và nếu hoàn trả thì phải hoàn trả bao nhiêu? BLDS thì quy định người làm công người học nghề “ hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”, quy định ở đây không rõ ràng.
Do đó, cần phải đưa ra khái niệm người làm công, người học nghề để có cái nhìn đúng đắn về TNBTTH do người làm công, người học nghề gây ra. Hiện nay, chỉ có khái niệm người lao động được quy định trong luật lao động còn chưa có bất kì một khái niệm nào về người làm công, người học nghề điều này rất dễ gây nhầm lẫn
 Quy định cụ thể điều kiện phát sinh TNBTTH do người làm công, người học nghề gây ra. Thực tiễn xét xử cho thấy trong thời gian qua có rất nhiều tòa án cứ thấy thiệt hại có liên quan tới người làm công, người học nghề gây ra là áp dụng TNBTTH do người làm công, người học nghề gây ra trong khi đang thực hiện công việc được giao hay không. Là một trường hợp cụ thể của TNBTTHNHĐ nhưng TNBTTH này cũng có những khác biệt cơ bản, những thiếu sót nhầm lẫn  trong nghiên cứu áp dụng luật về TNBTTH do người làm công, người học nghề gây ra cần có những quy định hướng dẫn về các điều kiện phát sinh.
Việc xác định chủ thê có trách nhiệm bồi thường có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ nhanh và kịp thời quyền và lợi ích của người bị thiet hại. Công việc được giao là một yếu tố quan trọng trong việc xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường. Để xác định vấn đề này cần xác định những trường hợp cụ thể:
-Nếu người làm công người học nghề thực hiện công việc được giao theo đúng như chỉ dẫn của người sử dụng lao động làm công, người học nghề gây ra thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thuộc về người làm công, học nghề. Khi đó người sử dụng lao động lam công, người dạy nghề có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại và có quyền yêu câu người làm công hoàn trả một khoản tiền
-Nếu người sử dụng lao động làm công, người dạy nghề có giao cho người làm công, người học người học nghề thực hiện một công việc nhưng không hề chỉ dẫn họ phải làm thế nào, mà trong quá trình thực hiện người làm công, người học nghề tự ý làm theo ý mình gây ra thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về cả hai bên: một bên là người sử dụng lao động làm công, người dạy nghề; một bên là người học nghề, làm công. Khi đó người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người làm công, người dạy nghề trực tiếp bồi thường. tuy nhiên, liệu đây co phải là trach nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại hay không và trách nhiệm của mỗi chủ thể như thế nào thì các nhà làm luật cần phải nghiên cứu cụ thể để có văn bản hướng dẫn cho vẫn đề này.
Quy định cụ thể về phương thức hoàn trả cũng như mức hoàn trả, trước hết là tạo tâm lí thoải mái cho người sử dụng lao động, người học nghề trong việc bồi thường kịp thời cho người gây thiệt hại. Bên cạnh đó việc quy định cụ thể vấn đề này sẽ giúp việc hoàn trả được dễ dàng và nhanh chóng, tránh tình trạng vừa giải quyết được tranh chấp trong vấn đề bồi thường thì lại phát sinh tranh chấp trong việc hoàn trả
Thứ hai, liên quan tới vấn đề chậm tiếp nhận nghĩa vụ
 Pháp luật dân sự Việt Nam mới chỉ quy định về việc nghĩa vụ thông báo của bên chậm thực hiện nghĩa vụ và quyền gia hạn của bên có quyền mà không hề có một quy định nào về việc đốc thúc của bên có quyền về việc bên có nghĩa vụ chưa thực hiện nghĩa vụ. Tới thời hạn nghĩa vụ phải thực hiện, mà bên có nghĩa vụ chưa thực hiện nghĩa vụ, bên có quyền có sự đốc thúc mà bên kia vẫn không thực hiện thì sự chậm trả đó mới khiến cho bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự. Khi không thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền kiện người chậm thực hiện ra tòa. Điều này dẫn đến một số bất cập. Như việc bên có nghĩa vụ có khả năng thực hiện nghĩa vụ nhưng do không nhớ mà dẫn tới việc quên và quá hạn thực hiện , bên kia lại không đốc thúc và khi hết hạn chưa thực hiện lại phải nhờ tòa án giải quyết. Cần phải có quy định “ Người có nghịa vụ chỉ bị bồi thường thiệt hại nếu đốc thúc mà vẫn không thực hiện nghĩa vụ” . Quy định như thế này làm giảm thiểu sự tham gia của tòa án vào việc giải quyết tranh chấp, làm người có nghĩa vụ tự giác và cần thấy phải nhanh chóng thực hiện nghĩa vụ của mình, tạo sự chủ động cho bên có quyền. Tuy nhiên sự đốc thúc này không vi phạm pháp luật và trái với đạo đức xã hội.


Danh mục tài liệu tham khảo
1.     Giáo trình “Luật Dân sự Việt Nam” tập 2, trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công An nhân dân.
2.     Giáo trình “Luật Dân sự Việt Nam” tập 2, TS.Lê Đình Nghị chủ biên, NXB giáo dục Việt Nam.
3.     Bộ luật dân sự Việt Nam
4.     Bình luận khoa học BLDS năm 2005 (tập II) phần thứ ba: nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự - Bộ tư pháp VIện khoa pháp lý
5.     Chủ biên: PGS Hoàng Thế Liên – nxb chính trị quốc gia, năm 2009
6.     Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng từ quy định của pháp luật đến thực tiễn – TS. Trần Thị Huệ- TS> Vũ Thi Hải Yến – Ths. Vũ Thị Hồng Yến- nxb tư pháp, năm 2009
7.     Các quy định về BTTH- NXB thống kê, năm 2006
8.     Các biên pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam – Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh ts. Đỗ Văn Đại – NXB chính trị quốc gia năm 2010
9.     Nghị định 148..
10.                         





Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

BÀI TẬP NHÓM DẤN SỰ 2

I – LỜI MỞ ĐẦU
          Nhà đất là tài sản có giá trị vô cùng lớn, liên quan mật thiết tới lợi ích của phần lớn xã hội. Vì vậy, việc chuyển nhượng, mua bán, phân chia,…nhà đất phải tuân theo những cơ chế chặt chẽ. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn, tranh chấp. Vụ án tranh chấp quyền sở hữu nhà giữa ông Nguyễn Văn Minh, bà Hoàng Thị Kim Anh và ông Nguyễn Văn Hạnh, bà Bùi Thị Thủy dưới đây là một ví dụ điển hình.
         Tòa án đã dựa trên những căn cứ nào để giải quyết vụ án?; những điểm đúng, sai, hợp lí, chưa hợp lí,…cùng những đề xuất về hướng giải quyết sẽ được nhóm làm sáng tỏ.

II – NỘI DUNG
Tóm tắt vụ án
          Vụ án tranh chấp quyền sở hữu nhà giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1954 và vợ là bà Hoàng Thị Kim Anh sinh năm 1961 với bị đơn là ông Nguyễn Văn Hạnh sinh năm 1966 và vợ là bà Bùi Thị Thúy sinh năm 1954.
          Diện tích nhà đất xảy ra tranh chấp tọa lạc tại số 5 ngõ 97 đường Vân Hồ 3 phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là của cha mẹ ông Minh và ông Hạnh đứng tên chủ hợp đồng thuê của nhà nước từ năm 1954. Sau khi cha mẹ hai ông chết thì hai gia đình ông Minh và gia đình ông Hạnh sử dụng diện tích nhà đất này. Theo trình bày của ông Minh thì hợp đồng thuê nhà từ đó chỉ đứng tên vợ chồng ông Hạnh cùng hai con của ông Hạnh và vợ chồng ông cùng hai con của ông. Còn theo lời ông Hạnh thì sau khi cha mẹ ông chết hợp đồng nhà đứng tên bà Bùi Thị Thủy (vợ ông Hạnh) rồi sau này mới có thêm thành viên của gia đình ông Minh. Diện tích nhà chính mỗi bên sử dụng một phần hai là khoảng hơn 10m2, còn diện tích sân bếp, vệ sinh dùng chung.
          Năm 2000-2001 hai anh em ông Minh và ông Hạnh cùng bỏ tiền ra mua nhà theo nghị định 61/CP với diện tích đất trong hợp đồng thuê là 46,2m2 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở ngày 29/8/2001.
          Trong quá trình hai gia đình sử dụng đất có cơi nới ra phía trước nhà được diện tích khoảng 15m2, phía sau bếp, WC cơi nới được khoảng 23m2. Diện tích này là diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
          Nay hai bên xảy ra tranh chấp về việc phân chia diện tích nhà đất có trong sổ đỏ và diện tích nhà đất được cơi nới thêm.
Tại biên bản hòa giải:
Nguyên đơn là vợ chồng ông Minh và bà Kim Anh thay đổi nội dung khởi kiện là đề nghị Tòa án phân chia diện tích nhà đất trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 46,2m2, còn diện tích ngoài giấy chứng nhận thì ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là vợ chồng ông Hạnh bà Thủy nêu quan điểm đồng ý chia diện tích nhà đất trong sổ đó là 16,2m2, còn diện tích đất ngoài sổ đỏ gia đình ông tự quản thì không chia.
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm thì phía bị đơn là ông Hạnh, bà Thủy lại cho rằng, nhà đất trên thuộc sở hữu riêng của ông bà vì bà Thủy là chủ hợp đồng thuê nên ông bà không chấp nhận yêu cầu chia của ông Minh và bà Kim Anh.

 Quá trình giải quyết vụ việc của Tòa án
1, Kết quả xét xử sơ thẩm tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2009/DS- ST ngày 25/5/2009 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phó Hà Nội.
          Chấp nhận yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung của ông Minh, bà Kim Anh đối với diện tích nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại số 5 ngõ 76 Vân Hồ 3- Hai bà Trưng- Hà Nội.
          Chia quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất cho hai hộ gia đình ông Hạnh, bà Thúy và  ông Minh, bà Kim Anh.
          Sau khi xét xử sơ thẩm, phía bị đơn là ông Hạnh, bà Thủy cùng chị Hương và anh Thắng có đơn kháng cáo.
2, Kết quả xét xử phúc thẩm tại bản án phúc thẩm số 276/2009/DS-PT ngày 30/10/2009.
          Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định sửa bản án sơ thẩm về  phần án phí (mỗi hộ được giảm 2/3 án phí vì có đơn xin miễn giảm án phí.
1.     Những khái quát chung về quyền sở hữu.
1.1   Khái niệm về quyền sở hữu
       Theo nghĩa khách quan: Quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện, trong đó ghi nhận và đảm bảo cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền sở hữu, quyền chiếm hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình.
        Theo nghĩa chủ quan,Điều 164 BLDS2005 quy định “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.”
1.2   Các hình thức sở hữu
           Hiến pháp là cơ sở pháp lí quan trọng xác định các hình thức sở hữu  trong  bộ luật dân sự. Điều 15, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hang hóa nhiều thành phần theo cơ chế thụ trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”
            Theo tinh thần chung đó, Điều 172,BLDS 2005 quy định: “Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, các hình thức sở hữu bao gồm sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.”
            Trong đó, liên quan mật thiết tới vụ việc chúng ta phân tích trong bài là hình thức sở hữu chung, mà cụ thể là sở hữu chung theo phần. Cụ thể là:
    Thứ nhất, về khái niệm: “sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung” (Khoản 1, Điều 216, BLDS 2005).
    Thứ hai về đặc điểm,sở hữu chung theo phần có các đặc điểm về phần quyền sở hữu và nội dung của các đồng sở hữu chủ như sau:
-         Phần quyền của các đồng sở hữu chủ theo phần luôn xác định đối với tài sản chung (mặc dù tài sản chung là một khối thống nhất). Phần quyền đó luôn được xác định theo một tỉ lệ nhất định trên tài sản chung, tỉ lệ đó có thể bằng nhau, có thể không bằng nhau.
-         Tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, mỗi sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
-         Các đồng sở hữu chủ cùng nhau chiếm hữu tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
-         Việc xác định phần quyền trong việc xác định tài sản chung theo nguyên tắc thỏa thuận, nếu không thỏa thuận hoặc có tranh chấp sẽ xác định theo nguyên tắc phần quyền bao nhiêu sẽ được hưởng lợi hoặc chịu rủi ro tương ứng bấy nhiêu.
-         Phần quyền của chủ sở hữu có thể là đối tượng của giao dịch dân sự, nếu một trong các đồng sở hữu chủ chết thì phần quyền đó để lại cho những người thừa kế; trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước.
-         Khi một trong các đồng sở hữu chủ muốn bán phần quyền của mình thì các chủ sở hữu khác được quyền ưu tiên mua. Đồng sở hữu chủ muốn bán phần quyền của mình phải gửi thong báo bằng văn bản tới các đồng sở hữu chủ khác. Trong thời hạn  ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một thấng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thong báo vể việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó có quyền bán cho người khác.
Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở chung theo phần có quyền yêu cầu tòa án chuyển phải bồi thường thiệt hại.
           
          2.Những căn cứ pháp lí để giải quyết vụ án

Thứ nhất, xác định diện tích nhà đất trong vụ kiện thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng
Theo như ông Minh và bà Kim Anh thì diện tích nhà đất 46,2m2 là thuộc sở hữu chung của gia đình ông bà và gia đình ông Hạnh, bà Thủy do trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở đứng tên cả bốn người. Tuy nhiên, theo bản tự khai của ông Hạnh và bà Thủy, hai ông bà lại cho rằng “nhà đất trên thuộc sở hữu riêng của ông bà vì bà Thủy là chủ hợp đồng thuê”. Chính vì vậy, khi giải quyết vụ án cần phải xác định căn nhà thuộc sở hữu chung của hai gia đình hay sở hữu riêng.
Điều 214 BLDS quy định:
“ Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản.
…
Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung.”
Thứ hai, về việc nguyên đơn yêu cầu phân chia diện tích nhà đất trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất
Khoản 1 Điều 224 BLDS 2005:
“1. Trong trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu các chủ sở hữu chung đã thỏa thuận không phân chia tài sản chung trong một thời hạn thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để chia”,
Vì vậy, trong quá trình xét xử vụ án cần phải căn cứ vào quy định này để ra quyết định có phân chia diện tích nhà đất là đối tượng của vụ kiện hay không.
 Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung của ông Minh, bà kim Anh đối với diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sở hữu đất.
Thứ ba, diện tích trong và ngoài sổ đỏ của 2 gia đình đã được xây tường bao riêng biệt nên khi tiến hành phân chia cần để dành một phần đất làm lối đi chung
Khoản 2, 3 Điều 275 BLDS 2005 quy định về quyền về lối đi qua bất động sản liền kề:
“2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.
3. Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 điều nay mà không có đền bù”
Thứ tư, khi tiến hành chia diện tích nhà đất cần xác định xem diện tích nhà đất được chia có bảo đảm đúng kích thước tối thiểu mà pháp luật quy định hay không
Điểm b, Khoản 1 Điều 3 Quyết định 58 ngày 30/3/2009 của UBND thành phố Hà Nội,quy định về kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa:
“b, có diện ích không nhỏ hơn 30m2 một thửa” -> phần này hình như sai vì đây chỉ chia nhà đất thôi chứ không tách thửa.
Thứ năm, giải quyết về vấn đề cấp thoát nước
Điều 277 BLDS 2005quy định Quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề:
“Trong trường hợp do vị trí tự nhiên của bất động sản mà việc cấp, thoát nước buộc phải qua một bất động sản khác thì chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua phải dành một lối cấp, thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy. Người sử dụng lối cấp, thoát nước phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua khi lắp đặt đường dẫn nước; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trong trường hợp nước tự nhiên chảy từ vị trí cao xuống vị trí thấp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua thì người sử dụng lối cấp, thoát nước không phải bồi  thường thiệt hại.”
Tòa án sơ thẩm cũng quyết định hai bên phải giữ nguyên hiện trạng, cống thoát nước của bất đông sản liền kề chạy qua diện tích đất của hộ gia đình, không được cản trở hoặc ngăn chặn làm ảnh hưởng tới sinh hoạt chung...
3. Bình luận về việc giải quyết vụ án của tòa án
          Trong vụ việc trên thì Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án như sau:
Thứ nhất, Tòa chấp nhận yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung của ông Minh, bà Kim Anh đối với diện tích nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại số 5 ngõ 76 Vân Hồ 3- Hai Bà Trưng- Hà Nội.
          Có thể thấy, để đưa ra quyết định trên thì trước hết tòa đã xác định diện tích nhà đất trên thuộc sở hữu chung của gia đình ông Minh, bà Kim Anh và gia đình ông Hạnh bà Thủy. Trong đơn khởi kiện, gia đình ông Minh và bà Kim Anh  đã xác định diện tích nhà đất trên là do gia đình ông và gia đình ông Hạnh đứng tên đồng sở hữu; tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm thì vợ chồng ông Hạnh lại cho rằng nhà đất trên thuộc sở hữu riêng của ông bà vì bà Thủy là chủ hợp đồng thuê.  Tòa án chấp nhận yêu cầu chia nhà đất nghĩa là đã phủ định ý kiến của vợ chồng ông Hạnh cho rằng nhà đất thuộc sở hữu riêng của gia đình ông.
          Quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất được chi nhận trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở ngày 28/9/2001 đứng tên vợ chông ông Minh và vợ chồng ông Hạnh là đồng chủ sở hữu nên tài sản trên sẽ được xác định là thuộc sở hữu chung của hai gia đình.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 224 thì “Trong trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung..”
Trong vụ việc này thì tài sản chung là nhà đất là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung có thể phân chia vì vậy gia đình ông Minh có yêu cầu chia là hoàn toàn hợp pháp và Tòa án chấp nhận yêu cầu này là đúng đắn.
Căn cứ vào
Thứ hai, Tòa quyết định dành một lối đi để hai hộ sử dụng chung có kích thước 0.8m ´ 12,82m. Quyết định này được đưa ra dựa trên quy định tại Điều 275 BLHS về quyền về lối đi qua bất động sản liền kề. Do diện tích đất của hai gia đình được tách thửa nên cần thiết để lại một lối đi chung để thuận tiện cho quá trình sử dụng.
Thứ ba, diện tích nhà đất còn lại được tòa chia đôi cho cả hai gia đình: gia đình ông Minh và gia đình ông Hạnh mỗi hộ được sở hữu và sử dụng 17,97m2 diện tích nhà đất trong sổ đỏ. Phần diện tích đất cơi nới thêm thì không chia do các bên  không có yêu cầu. Việc tòa án chia đôi diện tích nhà đất theo yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn phù hợp do phần quyền của hai bên gia đình ông Hạnh và ông Minh đối với diện tích nhà đất chung không có căn cứ xác định do hai bên cùng góp tiền mua đất (không xác định cụ thể là mỗi bên đã góp bao nhiêu tiền) và trong quá trình sử dụng hai bên cũng cùng đóng thuế.
Thứ tư, tòa yêu cầu hai bên phải giữ nguyên hiện trạng, cống thoát nước của các bất động sản liền kề chạy ngang qua diện tích đất của hộ gia đình, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng chảy làm ảnh hưởng đến sinh hoạt chung.
          Quyết định trên của tòa án là căn cứ vào quy định tại điều 277 BLDS về quyền về cấp thoát nước qua bất động sản liền kề. Theo đó “... chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua phải dành một lối cấp thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng chảy...”. Vì vậy, việc tòa án đưa ra yêu cầu như trên đối với hai hộ gia đình sau khi phân chia nhà đất là hoàn toàn hợp lí và theo đúng quy định của pháp luật.
.........còn ý về vật liệu xây dựng thì t không tìm thấy quy định nên t không bình luận được......
          Sau khi án sơ thẩm được tuyên thì gia đình ông Hạnh, bà Thủy, chị Hương và anh Thắng có đơn kháng cáo. Tuy nhiên, bản án phúc thẩm của Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội quyết định giữ nguyên kết quả của bản án phúc thẩm và chỉ sửa phần án phí.
4. Quan điểm của nhóm về giải quyết vụ án
          Qua những phân tích cũng như đánh giá, bình luận ở trên của nhóm về cách giải quyết vụ án của Tòa án thì nhóm hoàn toàn thống nhất với cách giải quyết vụ án của tòa.
          Thứ nhất, về yêu cầu chia đôi diện tích nhà đất trong sổ đỏ của nguyên đơn. Nhà đất của hai hộ gia đình là thuộc sở hữu chung nên vì vậy một trong hai bên có quyền yêu cầu phân chia.(do hai bên không có thỏa thuận không phân chia tài sản trong một thời hạn.). Do không có căn cứ xác định được phần quyền sở hữu của mỗi bên đối với diện tích nhà đất nên nó sẽ được chia đều cho hai gia đình.
          Thứ hai, khi chia đôi diện tích nhà đất cần phải dành ra một lối đi chung cho cả hai gia đình để tránh việc một chủ sở hữu được chia phần nhà đất phía bên trong sẽ bị vây bọc và không có lối đi. Chính vì vậy, trước khi tiến hành chia nhà đất cần dành một diện tchs đất nhất định để làm lối đi chung cho cả hai gia đình.

          Thứ ba, khi chia cần phải đảm bảo không ảnh hưởng đến cống thoát nước của cách bất động sản liền kề. Yêu cầu cả hai bên giữu nguyên hiện trạng của cống thoát nước của các bất động sản liền kề chạy ngang qua diện tích đất của mình.