Hiển thị các bài đăng có nhãn NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016

Những biểu hiện cụ thể về nội dung kinh tế, chính trị, tư tưởng – văn hóa, xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay


Là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, khao khát về một xã hội công bằng tốt đẹp, Việt Nam đã bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ một nước có xuất phát điểm thấp, nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa đã và đang gặp phải rất nhiều khó khăn và thách thức. Trong giai đoạn đầu thực hiện Đảng và Nhà nước ta đã mắc phải những sai lầm, áp dụng những đường lối, chính sách không phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam do chưa hiểu đúng bản chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chủ quan nóng vội và duy ý chí. Để biết được thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay như thế nào, em đã chọn đề bài: “Những biểu hiện cụ thể về nội dung kinh tế, chính trị, tư tưởng – văn hóa, xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay”.


Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là một cuộc cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, tư tưởng – văn hóa) nhằm xây dựng một xã hội mới tốt đep nhất từ trước tới nay. Đó là xã hội mang lại lợi ích của đại đa số con người.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện sự chuyển biến từ xã hội cũ sang xã hội mới – xã hội XHCN. Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến có lực lượng sản xuất thấp, phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh, tàn dư của chế độ thực dân phong kiến, các thế lực thù địch chống phá cách mạng nên thời kỳ quá độ (TKQĐ) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam kéo dài với rất nhiều khó khăn và phức tạp.
Ở nước ta, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trên phạm vi cả nước, sau khi đã hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đất nước thống nhất.
Thứ nhất là phát triển theo con đường XHCN là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử. Loài người đã phát triển qua các hình thái kinh tế - xã hội: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa. Sự biến đổi của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên và hình thái kinh tế- xã hội sau cao hơn, tiến bộ hơn hình thái kinh tế - xã hội trước nó. Sự biến đổi của các hình thái kinh tế - xã hội nói trên đều tuân theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng  sản xuất.
Thứ hai là theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, những nước nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển kinh tế vẫn có khả năng tiến thẳng lên CNXH mà không phải trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Thứ ba là căn cứ vào xu thế phát triển của thời đại cùng với điều kiện lịch sử của Việt Nam. Trong quá trình phát triển của cách mạng, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân lao động mong muốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’’
Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là sự tồn tại những yếu tố của xã hội thực dân nửa phong kiến bên cạnh những nhân tố mới của chủ nghĩa xã hội trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Về kinh tế, trong thời gian đầu đi lên CNXH, do chưa hiểu rõ đặc điểm kinh tế trong TKQĐ lên CNXH, Việt Nam có nền kinh tế bao cấp và chỉ thừa nhận hai thành phần kinh tế, đó là thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Nền kinh tế của đất nước rơi vào tình trạng ‘‘cha chung không ai khóc’’, suy thoái cục bộ tất yếu phải thay đổi. Hiện nay Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần dựa trên sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Về chính trị, kết cấu giai cấp nước ta đa dạng phức tạp, bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức,… Trong một giai cấp tàng lớp cũng  có nhiều bộ phận có trình độ và ý thức khác nhau. Về tư tưởng – văn hóa, Việt Nam tồn tại nhiều yếu tố tư tưởng và văn hóa khác nhau. Cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác Lê Nin, nước ta vẫn còn tồn tại tư tưởng phong kiến, tâm lí tiểu nông,…
II.  Nội dung kinh tế, chính trị, tư tưởng – văn hóa, xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011) đã điều chỉnh, chuẩn hóa một số nội dung và cô đọng hóa một số đặc trưng: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
Nội dung cơ bản trên lĩnh vực kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng sản xuất hiện có của xã hội; cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân lao động.
Nội dung của kinh tế trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta hiện nay thể hiện ở cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế; kinh tế nông thôn; nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thể hiện ở nền tài chính, ngân hàng và lưu thông tiền tệ; cũng như thể hiện rõ trong lợi ích kinh tế và phân phối thu nhập  trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nội dung này bao gồm những vấn đề cụ thể như sau:
1.1                         Xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất hiện đại quyết định việc nâng cao năng suất của nền sản xuất là yếu tố quy định sự phát triển lên trình độ cao của phương thức sản xuất mới.
Con người là lực lượng sản xuất cơ bản, cho nên trong lao động con người có khả năng sử dụng và quản lý nền sản xuất xã hội hoá cao với kĩ thuật và công nghệ tiên tiến nhất. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa. Từ đó, Đảng ta đã tập trung phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà trước mắt là hoàn thiện thể chế của nó; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, nhằm xây dựng một lực lượng sản xuất hiện đại để có một nền kinh tế phát triển cao.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toà diện hoạt động kinh tế-xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang việc sử dụng một cách phổ biến sức lao động với khoa học và công nghệ hiện đại, tiên tiến, tạo ra năng suất lao động cao. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ có tính quy luật của sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở những nước kinh tế lạc hậu, chủ nghĩa tư bản chưa phát triển và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Chỉ có hoàn thành nhiệm vu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mới có thể xây dựng được cơ sở vật chất- kĩ thuật cho xã hội mới, nâng cao năng suất lao động.
1.2 Xây dùng quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam đang trên con đường xây dựng quan hệ XHCN phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất trên cơ sở thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước không ngừng được củng cố và phát triển, nhất là trong các ngành và lĩnh vực then chốt, trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.     
Trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta, chế độ sở hữu tất yếu phải đa dạng, cơ cấu nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước; kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế cá thể và tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đường lối phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tác dụng to lớn trong việc động viên mọi nguồn lực cả bên trong lẫn bên ngoài, lấy nội lực làm chính để xây dựng kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất. Vì quan hệ sở hữu là đa dạng cho nên phải có những hình thức phân phối và nhiều hình thức tổ chức quản lý hợp lý, cũng như xác lập địa vị làm chủ của người lao động trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân phải diễn ra từng bước, dưới nhiều hình thức đi từ thấp đến cao.
1.3 Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Đảng ta vạch ra đường lối đối ngoại: độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, văn minh. Chúng ta mở cửa nền kinh tế, thu hút các nguồn lực phát triển từ bên ngoài và phát huy lợi thế kinh tế trong nước làm thay đổi mạnh mẽ về công nghệ, cơ cấu ngành và sản phẩm; mở rộng phân công lao động quốc tế tăng cường liên doanh, liên kết, hợp tác, là cơ sở để tạo điều kiện và kích thích sản xuất trong nước phát triển, vươn lên bắt kịp trình độ thế giới, mở rộng quan hệ sản xuất kinh tế quốc tế phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng đôi bên cùng có lợi và không can thiệp vàp nội bộ của nhau. Muốn vậy phải từng bước năng cao sức cạnh tranh quốc tế; tích cực khai thác thị trường thế giới; tối ưu hoá cơ cấu xuất - nhập khẩu; tích cực tham gia hợp tác kinh tế khu vực và hệ thống mậu dịch đa phương toàn cầu; xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, bảo vệ an ninh quốc gia.
Ví dụ, nước ta đã tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống; tham gia tích cực các hoạt động thúc đẩy sự hợp tác cùng có lợi trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); tăng cường quan hệ với các nước phát triển và nhiều nước, nhiều tổ chức khu vực và quốc tế khác; có quan hệ thương mại với hơn 140 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài.
Nội dung cơ bản trong lĩnh vực chính trị của TKQĐ lên CNXH là cuộc đấu tranh chống lên những thế lực thù địch, chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH; tiến hành xây dựng, củng cố Nhà nước và nền dân chủ XHCN ngày càng vững mạnh, đảm bảo quyền làm chủ trong hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhân dân lao động; xây dựng Đảng cộng sản trong sạch lãnh đạo giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh trong từng thời kỳ lịch sử.
2.1 xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
 Việc xây dựng nền dân chủ trong TKQĐ là mang tính tất yếu, không thể tránh khỏi và cần phải chú tâm xây dựng. Hình thức xây dựng nền dân chủ có những đặc trưng như nó đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân và nhà nước là thực thể để bảo vệ và phát huy quyền lực ấy. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của nền dân chủ. Hơn nữa, nền dân chủ XHCN có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất của toàn xã hội, và chế độ sở hũu ấy là đặc điểm kinh tế cơ bản của nền dân chủ. Ngoài ra, trên cở sở của sự kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích của toàn xã hội. trong nền dân chủ tất cả mọi người có được đầy đủ mọi quyền được phát triển và sáng tạo. Thực hiện nền dân chủ XHCN, đưa nhân dân lên địa vị làm chủ xã hội, thực hiện các liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với  nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
Ví dụ: Mọi công dân Việt Nam đủ điều kiện Luật định được tham gia bầu cử và ứng cử các cơ quan đại diện của mình trong bộ máy nhà nước.
2.2 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Nội dung của nhà nước được thể hiện trên năm mặt cụ thể và trên ba lĩnh . Thứ nhất, nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ cơ bản nhất để thực hiện quyền lực của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Thứ hai, nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ chuyên chính của giai cấp. Thứ ba là xây dựng một nền chuyên chính vô sản. Thứ tư, nhà nước xã hội chủ nghĩa là yếu tố cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thứ năm nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt là nhà nước không còn chuyên chính, là nửa nhà nước kiểu mới.
Ví dụ: Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.
2.3 Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.
            Văn hóa là tinh hoa con người và dân tộc, tinh hoa xã hội và thời đại. Nền văn hóa XHCN là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để xây dựng thành công nền văn hóa XHCN, chúng ta cần kế thừa và phát huy những giá trị, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của cộng đồng 54 dân tộc anh em; đồng thời, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và văn hóa thời đại để phát triển văn hóa Việt Nam thực sự là nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực và sức mạnh cho xã hội phát triển. Việt Nam đã và đang hướng tới nền văn hóa XHCN ở đó bản sắc văn hóa các dân tộc, cộng đồng người khác nhau phải được độc lập tồn tại, tôn vinh, phát huy, phát triển. Chính vì vậy, Đảng ta chủ trương phát triển nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng, làm phong phú diện mạo văn hóa Việt Nam.
2.4.         Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Đảng là tổ chức được trang bị đầy đủ, khoa học lí luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, có khả năng nhận thức được các quy luật khách quan của xã hội. Đảng cộng sản Việt Nam đề ra các đường lối, chính sách phát triển Đất nước, tạo sự nhất trí ngày càng cao về chính trị và tinh thần trong xã hội.
Nội dung cơ bản trong lĩnh vực này của TKQĐ lên CNXH là thực hiện tuyên truyền phổ biến tư tưởng của giai cấp công nhân cho toàn xã hội, khắc phục những tư tưởng và tâm lý có ảnh hưởng tiêu cực đến tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa tiếp thu tinh hoa từ các nền văn hóa trên thế giới.
Nước ta cần phải làm cho thế giới quan Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh từng bước chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện ngày càng rõ nết trong đạo đức và lối sống của mỗi con người. Nhà nước từng bước nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, tạo ra những điều kiện cho mọi nâng cao mức hưởng thụ văn hóa và trực tiếp sang tạo ra những giá trị văn hóa; đấu tranh chống mọi tàn dư tư tưởng và văn hóa lạc hậu phản động do xã hội cũ để lại hoặc do các thế lực thù địch xâm nhập vào. Việt Nam tiến tới xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và con người mới xã hội chủ nghĩa.  
Việt Nam thực hiện việc khắc phục tệ nạn do xã hội cũ để lại, xóa hết những hủ tục phong kiến hà khắc, những phong tục lỗi thời gây cản trở trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, tiến hành tuyên truyền về những điều hay lẽ phải để nâng cao nhận thức của người dân, nhất là những dân tộc ở vùng cao, vùng sâu vùng xa. Quá trình thực hiện gặp phải rất nhiều khó khăn vì nó đã trở thành thói quen của người dân. Đảng và nhà nước từng bước khắc phục sự chênh lệch giữa các vùng miền các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm tạo sự bình đẳng xã hội, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người theo mục tiêu lý tưởng tự do của người này là điều kiện tiền đề cho tự do của người khác; không ngừng gắn kết sự đoàn kết của 54 dân tộc anh em lại với nhau, tạo nên một sự thống nhất không thể tách rời, cùng chung sức một lòng xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh.
Ví dụ:Nhà nước bài trừ mê tín dị đoan, tục tảo hôn, bất bình đẳng giới trong xã hội; từng bước tiến hành xây dựng nông thôn mới.



Như vậy, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ tất yếu trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Với những biểu hiện cụ thể về nội dung kinh tế, chính trị, tư tưởng văn hóa, xã hội trong thời kỳ này như tìm hiểu ở trên, có thể hiểu phần nào về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nước ta đang gặp phải rất nhiều khó khăn trên con đường này, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ còn kéo dài và diễn biến phức tạp. Chính vì vậy, Đảng , Nhà nước và toàn thể nhân dân phải đoàn kết, chung sức để Việt Nam có những bước tiến dài trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội rút ngắn thời kỳ quá độ, xây dựng thành công nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

THỰC TRẠNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, giai cấp công nhân(GCCN) cùng các tầng lớp nhân dân đã giành được chính quyền về tay nhân dân. Trong thời đại kinh tế có nhiều biến động, nước ta trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân cần phải khẳng định vị trí, vai trò của mình. Để hiểu rõ về giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kì đổi mới, em đã chọn đề: “Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay”.
Giai cấp công nhân Việt Nam(GCCNVN)là những người lao động,những người làm công ăn lương đang làm việc trong lĩnh vực công nghiệp; đó là sản phẩm của nền đại công nghiệp đồng thời là sản phẩm của sự nghiệp cách mạng và quá trình đổi mới ở Việt Nam. GCCNVN có sứ mạng lịch sử là giải phóng không chỉ GCCN mà còn giải phóng toàn bộ nhân dân lao động khỏi áp bức, bất công, là lực lượng lao động xã hội để xây dựng một nước Việt Nam thành một nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Sau hơn hai mươi năm tiến hành đổi mới, từ một nước nông nghiệp là chủ yếu, chúng ta đang chuyển dần thành một nước công nghiệp theo xu hướng hiện đại. GCCN Việt Nam là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và đã có nhiều cố gắng để phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giữa GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong những năm đổi mới, GCCN nước ta đã có những bước phát triển tích cực, mạnh mẽ, đang tăng nhanh về số lượng, ngày càng đa dạng về cơ cấu, đồng thời chất lượng đội ngũ được nâng lên, đã xuất hiện bộ phận công nhân (CN) trí thức.
Số lượng CN  nước ta có xu hướng tăng nhưng vẫn chiếm tỉ lệ không lớn trong tổng số dân cư. Theo số lượng thống kê của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tính hết năm 2010, ước tính tổng số CN nước ta vào khoảng 12,6 triệu người, chiếm tỉ lệ 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội. Tuy nhiên, CN vẫn là lực lượng chủ yếu nắm giữ những cơ sở vật chất và các phương tiện sản xuất hiện đại nhất của xã hội, quyết định phương hướng phát triển chủ yếu của nền kinh tế. GCCN là lực lượng lao động đóng góp nhiều nhất vào ngân sách nhà nước (hằng năm GCCN đóng góp hơn 70% ngân sách).
Cơ cấu ngành nghề của GCCN hiện nay rất đa dạng. CN làm việc trong các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tư nhân và tập thể, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; trong các hộ sản xuất kinh doanh cá thể trong lĩnh vực công nghiệp hoặc lĩnh vực có tính chất công nghiệp; ngoài ra còn làm việc theo đồng ở nước ngoài, hoặc lao động chân tay tại các cơ quan nhà nước, các chợ ,…
Nhìn chung chất lượng CN ở nước hợp ta còn nhiều yếu kém nên hiện chúng ta đang thiếu trầm trọng các chuyên gia kĩ thuật,CN lành nghề có tác phong công nghiệp và tính kỉ luật cao. Thứ nhất, trình độ học vấn phổ thong rất thấp, theo điều tra của ViệnCN Công đoàn năm 2010, có 10,5% CN có trình độ tiểu học; 43,7% trình độ trung học cơ sở, 45,5% có trình độ trung học phổ thông, đặc biệt vẫn còn 0,28% người lao động không biết chữ. Thứ hai, theo thống kê của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam năm 2009, trình độ chuyên môn củaCN Việt Nam tại các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế còn khá khiêm tốn (57,08% lao động phổ thông,26,97% là lao động có trình độ chuyên môn từ sơ cấp học nghề trở lên;6,26% CN có trình độ trung cấp và 10,09% tỷ lệ CN có trình độ đại học, cao đẳng). Thứ ba, trình độ nhận thức chính trị về vai trò lãnh đạo của GCCN còn nhiều hạn chế. Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị củaCN không đồng đều. Một bộ phận CN không tích cực tham gia vào Đảng, tỷ lệ CN là Đảng viên thấp và có xu hướng giảm trong những năm gần đây.Theo số liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương: Năm 2003, số người được kết nạp Đảng làCN trực tiếp sản xuất chiếm 7,69% tổng số được kết nạp Đảng; năm 2004, tỷ lệ này là 8,19%; năm 2005 là 6,87%. Hiện nay, nhận thức về vai trò lịch sử của GCCNVN trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn khá mờ nhạt, chưa được thể hiện cụ thể. Thứ tư, công đoàn là tổ chức của GCCN và người lao động hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi của CN đã có những đóng góp lớn cho phong trào CN ở Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động của công đoàn hiện nay không thiết thực, mang nặng tính hình thức dẫn đến nhiều phong trào bãi công tự phát của CN gia tăng, nhiều tai nạn lao động xảy ra nhưng không bồi thường thích đáng (Trong ba năm (2009, 2010, 2011), cả nước đã xảy ra 1.712 cuộc đình công của CN. Phần lớn các cuộc đình công xảy ra ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 76,5%)và không theo đúng trình tự qui định của pháp luật).
Trong nền kinh tế suy thoái, đồng tiền mất giá, GCCN phải chịu không ít áp lực để xoay xở cuộc sống cho bản thân và gia đình. Cuối năm 2011, lương bình quân của CN lao động trong doanh nghiệp nhà nước là 3,8 triệu đồng, doanh nghiệp tư nhân là 2,7 triệu đồng, donh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 3 triệu đồng. Với mức lương như vậy mà họ phải làm việc trong môi trường không đảm bảo an toàn (ô nhiễm khí thải, tiếng ồn, bụi bẩn, chất độc hóa học), lao động nặng nhọc cùng các thiết bị cũ kỹ, lạc hậu; chất lượng cuộc sống của họ rất thấp. Theo khảo sát của trung tâm dinh dưỡng TP Hồ Chí Minh, cứ 10 CN có 3 người bị suy dinh dưỡng, 20% bị thiếu máu và hơn 70% CN thiếu Iốt.
Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII của Đảng chỉ rõ phương hướng xây dựng GCCN nước ta trong giai đoạn hiện nay là: “ Cùng với quá trình phát triển công nghiệp và công nghệ theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần xây dựng  phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, vững vàng về chính trị, tư tưởng, có trình độ học vấn và tay nghề cao, có năng lực tiếp thu và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình”. Đảng và nhà nước cần quan tâm và có những chính sách phù hợp nâng cao trình độ văn hóa, năng lực chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của CN; tăng cường hoạt động của Đảng và công đoàn trong bảo vệ lợi ích hợp pháp của CN; phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho GCCN.

Như vậy, GCCNVN hiện nay có những thay đổi về nhiệm vụ cách mạng và đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức của nền kinh tế. GCCN cần nâng cao trách nhiệm, nhận thức rõ vai trò và sứ mệnh của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2016

Sự vận dụng quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX ở Việt Nam hiện nay



A, MỞ BÀI
           Để nền kinh tế của một đất nước phát triển thật sự nó được chi phối bởi rất nhiều yếu tố, trong đó có quy luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX, đây là một quy luật hết sức phổ biến và đóng vai trò quan trọng  trong công cuộc xây dựng đất nước của mỗi quốc gia. Sự mâu thuẫn hay phù hợp của nó đều có những ảnh hưởng nhất định đến cơ cấu cũng như sự phát triển của nền kinh tế nước ta. Sự thống nhất mối quan hệ giữa LLSX và QHSX tạo nên một nền kinh tế có lực lượng phát triển, và kéo theo đó là một QHSX tiến bộ. Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ này em xin bàn về vấn đề: Sự vận dụng quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX ở Việt Nam hiện nay.
B, NỘI DUNG
   I, Lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
    1, Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất
     - Lực lượng sản xuất ( LLSX) là sự kết hợp giữa người lao động ( sức khỏe thể chất, kinh nghiệm,..) với tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định.
      - LLSX gồm hai yếu tố cơ bản: người lao động và TLSX nhất định. Các yếu tố trong LLSX không thể tách dời nhau. Chúng có quan hệ hữu cơ với nhau trong đó yếu tố con người giữ vị trí hàng đầu, TLSX đóng vai trò rất quan trọng.
   2, Khái niệm và kết cấu của QHSX
     - Quan hệ sản xuất (QHSX) là những quan hệ cơ bản giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất (sản xuất và tái sản xuất xã hội).
     - QHSX kết cấu gồm có ba mặt: quan hệ sở hữu đối với TLSX, quan hệ tổ chức, quản lí sản xuất và quan hệ phân phối kết quả sản xuất. Ba mặt quan hệ này thống nhất với nhau, mỗi mặt đều có tác động kích thích , thúc đẩy hoặc cản trở, kìm hãm những mặt khác. Trong đó, quan hệ sở hữu đối với TLSX đóng vai trò quyết định hai mặt kia.
     QHSX mang tính khách quan, nó được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. QHSX là quan hệ cơ bản quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác của con người.
   3, Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX.
      Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó LLSX quyết định QHSX và QHSX tác động ngược trở lại LLSX.
     -Vai trò quyết định của LLSX đối với sự hình thành và biến đổi của QHSX:
      +Tương ứng với một trình độ phát triển nhất định của LLSX tất yếu đòi hỏi phải có  một QHSX phù hợp với nó trên cả ba mặt của QHSX đó.
       + Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi và phát triển. Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của LLSX mà trước hết là công cụ lao động. Từ sự biến đổi của LLSX này mà QHSX phải biến đổi cho phù hợp.
      + LLSX thường biến đổi nhanh hơn ( yếu tố người lao động luôn thúc đẩy sự phát triển của nó), còn QHSX thường biến đổi chậm hơn (vì QHSX bị quy định bởi quan hệ về sở hữu TLSX bị níu giữ bởi yêu cầu phải bảo đảm lợi ích của giai cấp thống trị hiện đang nắm giữ quyền sở hữu TLSX.
      Do đó, sự phát triển của LLSX khi đạt đến một trình độ nhất định sẽ mâu thuẫn gay gắt với QHSX hiện có, đòi hỏi tất yếu phải phá bỏ QHSX lỗi thời và thay thế bằng QHSX mới phù hợp.
      -Tác động ngược lại của QHSX đối với LLSX.
       + QHSX quy định mục đích, cách thức sản xuất và cách thức phân phối những lợi ích từ quá trình sản xuất do đó nó trực tiếp tác động tới thái độ của người lao động, tới năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động.
      + Sự tác động của QHSX với LLSX diễn ra theo hai xu hướng:
         Một là, Nếu QHSX phù hợp với trình độ của LLSX thì sẽ thúc đẩy LLSX phát triển.
         Hai là, Nếu QHSX không phù hợp với trình độ của LLSX thì sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX.
         Quy luật này là quy luật cơ bản , quan trọng tác động tới toàn bộ quá trình lịch sử nhân loại, ở đó LLSX không ngừng phát triển phá vỡ sự phù hợp về mặt trình độ của QHSX đối với nó dẫn tới việc phá bỏ QHSX đã lỗi thời thay thế bằng QHSX tiến bộ hơn. Quá trình đó lặp đi lặp lại làm cho xã hội loài người trải qua những phương thức sản xuất từ thấp đến cao của các hình thái kinh tế - xã hội.
  II, Thực tiễn sự vận dụng quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX ở Việt Nam hiện nay
         1, Thời kì trước đổi mới (trước 1986)
         Trước thời kì đổi mới nước ta nước ta có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp và sự thể hiện quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX biểu hiện cụ thể:
         +Nước ta đã thiết lập một chế độ công hữu về tư liệu sản xuất một cách ào ạt, trong khi đó đang tạo địa bàn cho sự phát triển LLSX (vi phạm tính lịch sử cụ thể).
          + Đồng thời, trong quá trình cải tạo nền sản xuất chỉ tập trung cải tạo QHSX, chủ trương xây dựng QHSX tiến bộ mở đường cho LLSX phát triển (đi ngược lại với quy luật QHSX phù hợp với phát triển của LLSX).
        Thực tế vận dụng quy luật này cho thấy chúng ta đã quá coi trọng vai trò của QHSX và cho rằng có thể đưa QHSX đi trước để mở đường, thúc đẩy LLSX cùng phát triển. Việc áp dụng quan niệm ấy là hoàn toàn sai lầm, minh chứng cho điều đó là LLSX trong thời gian qua thấp kém, QHSX được duy trì ở trình độ quá cao. Từ đó làm mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển LLSX với hình thức kinh tế - xã hội được áp đặt một cách chủ quan trên đất nước ta. Mâu thuẫn đó đã để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nền kinh tế nước nhà: kinh tế chậm phát triển, sản xuất trì trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4% (trong khi chỉ tiêu đặt ra là 13-14%), tình trạng thiếu lương thực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập khẩu 1,576 triệu tấn lương thực, ngân sách thiếu hụt, giá cả hàng năm tăng 20%, nhập khẩu chiếm 4-5 phần xuất khẩu. Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, hàng tiêu dùng thiếu trầm trọng,..Qua đó, ta có thể thấy một thực tế của việc làm trái quy luật đã gây ra hậu quả nặng nề cho nền kinh tế đất nước là rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Như vậy, QHSX không phù hợp với trình độ LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX.
       2, Sự vận dụng quy luật này ở Việt Nam hiện nay
         a,Trình độ phát triển của LLSX ở Việt Nam hiện nay: . “người ta không được tự do lựa chọn lực lượng sản xuất cho mình... vì mọi lực lượng sản xuất là lực lượng đã đạt được, tức là một sản phẩm của một hoạt động đã qua... không phải do họ tạo ra, mà do thế hệ trước tạo ra... Mỗi thế hệ sau đã có sẵn những lực lượng sản xuất do những thế hệ trước xây dựng lên và được thế hệ mới dùng làm nguyên liệu cho sự sản xuất mới, ...'' [1].
            -Thứ nhất, là trình độ của người lao động: đã được nâng cao rõ rệt và không ngừng tăng cao, cụ thể: tỉ lệ người lao động đã qua đào tạo có xu hướng tăng nhanh từ 9.357.532 người năm 2003 ( chiếm 22,5% tổng số lao động của cả nước) lên 10.770.688 người năm 2005 ( chiếm 25% tổng số lao động của cả nước) trong đó, số lao động có trình độ cao đẳng, đại học là 5.708.465 người ( chiếm 5,3 %) . Người lao động năng động, sáng tạo, cần cù, chịu khó,…kinh nghiệm và kĩ năng lao động của con người Việt Nam cũng khác nhau: có kinh nghiệm và kĩ năng của người lao động cơ khí, máy móc, có kinh nghiệm và kĩ năng của người lao động đối với máy móc hiện đại, tự động hóa,… Từ đó, trình độ tổ chức và phân công lao động, trình độ ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất ở Việt nam hiện nay đã có nhiều tiến bộ. Qua đó, cho thấy trình độ chuyên môn tay nghề của lao động nước ta đang có những chuyển biến tích cực đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu cũng như đòi hỏi thực tế của nền kinh tế đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
           -Thứ hai, là trình độ của tư liệu sản xuất tiến bộ hơn so với thời kì trước đổi mới cụ thể:
              + Công cụ lao động hiện đại hơn với sự đầu tư, mua mới nhiều máy móc, công cụ hiện đại vào trong quá trình sản xuất góp phần làm cho năng suất lao động tăng cao, giảm bớt được chi phí sức lao động. Điển hình, trước thời kì đổi mới chúng ta sử dụng trâu, bò để cày, máy móc đưa vào sản xuất còn hạn chế và thô sơ. Nhưng đến giai đoạn hiện nay, đã được thay bằng máy cày,…việc sản xuất đã được trang bị bởi một hệ thống máy móc hiện đại nhập khẩu từ nước ngoài góp phần làm cho nền kinh tế đất nước phát triển nhanh. Như Các – Mác nói: “Các cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”[2]. Và cái cối xay hiện nay không phải quay bằng tay, không phải chạy bằng hơi nước mà là tự động hóa.       
              + Đối tượng lao động hiện nay cũng hiện đại hơn rất nhiều: nếu trước đây với nền văn minh nông nghiệp thì đối tượng lao động chủ yếu là ruộng đất còn trong giai đoạn hiện nay, với nền văn minh cơ khí thì đối tượng lao động được mở rộng với các nguyên liệu như: than đá, chất đốt, dầu khí,…Tất cả tạo điều kiện cho sự phát triển ngày càng hiện đại của lực lượng sản xuất.
         b,Những QHSX đang được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với trình độ phát triển của LLSX
            QHSX chúng ta thiết lập và xây dựng hiện nay là QHSX trong nền kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là QHSX xã hội chủ nghĩa tiến bộ vì nó hơn hẳn QHSX phong kiến và QHSX tư bản chủ nghĩa ( có bản chất bóc lột và ngày càng tỏ ra lỗi thời không phù hợp với lịch sử). Và QHSX xã hội chủ nghĩa sẽ dần xóa bỏ áp bức bóc lột đưa mọi thành viên trong bộ máy sản xuất và cả xã hội đến ấm no, hạnh phúc.
           - Đa dạng hóa các hình thức sở hữu: Do trình độ của LLSX ở nước ta hiện nay đa dạng, không đồng đều, nhiều trình độ do đó nước ta phải xây dựng một QHSX phù hợp. Cùng với tiến trình xã hội hóa lực lượng sản xuất do công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang lại, con đường cơ bản của sự phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta là sự hình thành đa dạng các hình thức sở hữu hỗn hợp, đan kết lẫn nhau giữa hai nhân tố công hữu và tư hữu bằng những hình thức kinh tế trung gian quá độ. Trong đó, nhân tố công hữu sẽ ngày càng tăng lên thông qua một quá trình tích lũy về lượng bằng những định hướng của Nhà nước phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và theo đó yếu tố công hữu sẽ ngày càng làm tốt hơn vai trò chi phối và chủ đạo trong nền kinh tế[3]. Các hình thức kinh tế quá độ để chuyển tư hữu thành công hữu là rất đa dạng. Thực tiễn cuộc sống và sự phát triển tư duy lý luận sẽ ngày càng bổ sung thêm những hình thức mới. Cho đến nay chúng ta có thể khẳng định, để chuyển tư hữu thành công hữu không chỉ bằng con đường tịch thu, quốc hữu hóa hay bằng chủ nghĩa tư bản nhà nước, mà còn có thể bằng phát triển rộng rãi các hình thức của kinh tế hợp tác, các công ty cổ phần và các tổ chức kinh tế của những người lao động làm chủ, liên doanh, liên kết. Đa dạng có nghĩa là chúng ta xây dựng một nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu cùng tồn tại: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu nhà nước giữ vị trí chủ đạo và then chốt trong nền kinh tế quốc dân. Điều này hoàn toàn phù hợp với LLSX ở nước ta hiện nay. Quan hệ sở hữu đang ngày càng tiến bộ vì nó đang vận hành theo hướng hạn chế đến mức tối thiểu những tiêu cực trong quá trình sản xuất và phấn đấu đi đến xóa bỏ áp bức bóc lột đem lại cuộc sống  ấm no, hạnh phúc cho toàn xã hội.
           - Xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần: trải qua thời kì chiến tranh nước ta đã và đang từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thiện tiến dần tới sự tiến bộ và phù hợp. Nếu trước kia chúng ta chỉ công nhận sự tồn tại của hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Một ví dụ minh chứng cụ thể cho sự tồn tại của thành phần kinh tế cũ này là: ở nước ta tồn tại mô hình hợp tác xã, mô hình này trước thời kì đổi mới là các hợp tác xã mang tính chất ép buộc ( buộc mọi người vào làm trong hợp tác xã), tính công theo ngày không quan tâm tới năng suất, hiệu quả, tinh thần trách nhiệm của mọi thành viên trong hợp tác, cũng như lợi ích của người lao động, công cụ lao động thủ công nên người này chăm chỉ, người khác vẫn có thể lười biếng. Từ thực trạng tiêu cực đó nước ta không thể duy trì hai thành phần kinh tế đó nữa mà cần có sự đa dạng, mở rộng với việc công nhận thêm các thành phần kinh tế khác: thành phần kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản, tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó,  kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh  dưới sự lãnh đạo của Đảng và  sự quản lí của nhà nước nhằm tạo ra sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế và giữ được sự ổn định về chính trị, gắn với công bằng xã hội.       
         Như vậy, việc xây dựng và hoàn thiện các QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX hiện có: QHSX xã hội chủ nghĩa là QHSX ở trình độ cao có tác động mở đường cho sự phát triển của LLSX. Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng: nền kinh tế tăng trưởng liên tục, chế độ bao cấp bị xóa bỏ. “Cùng với việc thực hiện kế hoạch 5 năm ( 1991-1995) nước ta đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt: lao động có việc làm tăng nhanh, mỗi năm tạo ra hàng trăm việc làm mới, GDP đầu người đạt 1.300USD/ năm ( năm 2011)”[4].
          + Nông nghiệp phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, sản lượng lương thực tăng, Việt nam từ một nước thiếu lương thực đến nay đã trở thành đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo.
         + Công nghiệp tăng liên tục do có sự đầu tư lớn ở cả trong và ngoài nước, nhưng quan trọng là có sự đổi mới về cơ chế, chính sách quản lí của Nhà nước, xóa bỏ bao cấp, nhận vốn đầu tư nước ngoài,…
        Những thành tựu đạt được là kết quả của con đường đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Nó là kết quả của nhận thức đúng đắn quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển LLSX để phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
     III, Một số phương hướng để tiếp tục vận dụng đúng đắn quy luật này ở Việt Nam
       - Không ngừng phát triển LLSX thông qua việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển khoa học công nghệ, giáo dục, đào tạo.
       - Không ngừng xây dựng và phát triển các QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thông qua việc xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.      
       - Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường.
       - Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường.
       - Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
C, KẾT LUẬN
            Qua phần phân tích trên ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa phát triển LLSX với xây dựng hoàn thiện từng bước QHSX trong thời kì quá độ là mối quan hệ biện chứng, không tách dời nhau. Qua đó, đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh việc phát triển mạnh mẽ LLSX với một trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao làm cơ sở cho việc lựa chọn, vận dụng quy luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX. Góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển với tốc độ nhanh, bền vững, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân cả nước.
         Trong quá trình làm bài tập em đã có sự cố gắng, tìm hiểu song không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô để bài tập được hoàn thiện hơn.
      








      



[1] Thư C.Mác gửi P.V.Annencốp 28.1.1846.

[2] C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.187
[3] http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/kinh-te-thi-truong-XHCN/2012/17201/Tai-co-cau-cac-quan-he-so-huu-de-dinh-huong-xa.aspx
[4] http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/kinh-te-thi-truong-XHCN/2012/17201/Tai-co-cau-cac-quan-he-so-huu-de-dinh-huong-xa.aspx

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2016

VÂN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT MỘT VẤN ĐỀ CỦA TỰ NHIÊN HOẶC XÃ HỘI HOẶC TƯ DUY

PHẦN MỞ ĐẦU

Chúng ta đang sống trong một thời kì mà ở bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam này cũng có thể tiến hành giao dịch thương mại ( Hình 1a,1b ). Cứ ngủ dậy gửi một tin nhắn hay rửa mặt dưới nước máy là bạn đã tham gia một giao dịch thương mại. Từ cái tăm, đến gói muối nơi nào cũng có người bán, kẻ mua, cứ có cầu thì nguồn cung sẽ xuất hiện. Chỉ cần có tiền là hàng sẽ được giao tới tận nơi nhanh nhất có thể. Sản phẩm làm ra có thể dùng hoặc đem bán ở bất cứ nơi đâu được giá cao mà không bị bó buộc bởi bất kỳ một luật lệ nào hết. Cao hơn một chút ta thấy trên đất nước xuất hiện nhiều hơn các tập đoàn, công ty nước ngoài. Đấy là còn chưa kể tới các công ty tư nhân chiếm đa số, phân bố ở khắp nơi. Và chúng ta gọi nó một cách nôm na là cơ chế thị trường mở cửa, thông thoáng. Nhưng trong trí nhớ cuả những người đã trải qua thời kì ấy, chắc không khi nào quên khái niệm cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nói cách khác là cơ chế quan liêu bao cấp. Hình ảnh về nó ấn tượng đến nỗi chúng ta  có thể dễ dàng tìm thấy chỉ bằng vài thao tác đơn giản trên Internet.
Nghĩ đến quan liêu bao cấp có nhiều người nhìn nó bằng ánh mắt không mấy thiện cảm, có khi còn chê bai, chỉ trích… Nhưng thiết nghĩ sự vật hiện tượng nào cũng nên được nhìn một cách toàn diện trước khi bị đưa ra phán xét, như thế mới đánh giá đúng về nó. Và phải chăng là thật sự cần thiết với việc áp dụng quan điểm toàn diện vào giải quyết vấn đề đang được bàn tới ở đây: cơ chế kế hoạch hóa tập trung – mặt lợi hay cái hại?

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
Phép biện chứng duy vật là môn khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.  Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống gồm 2 nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển), 6 cặp phạm trù cơ bản (cái riêng – cái chung, nguyên nhân – kết quả, tất nhiên – ngẫu nhiên, nội dung – hình thức, bản chất – hiện tượng, khả năng – hiện thực) và 3 quy luật phổ biến (quy luật lượng – chất, quy luật phủ định của phủ định, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập). Từ 2 nguyên lý cơ bản trên, ta xây dựng được 3 quan điểm: Quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể. Trong đó, quan điểm toàn diện đóng một vai trò quan trọng bởi bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú. Do đó, quan điểm toàn diện có ý nghĩa hết sức thiết thực trong cuộc sống.
 I. Lý luận chung về quan điểm toàn diện
 1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một thể thống nhất. Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tồn tại tách biệt với nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau. Cơ sở của sự liên hệ đó chính là tính thống nhất của thế giới vật chất.
Mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là khách quan, là vốn có của sự vật, hiện tượng. Đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ biến bởi bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng đều nằm trong các mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác.
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực của thế giới,có mối liên hệ trực tiếp, mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thông qua một hay một vài khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vât. Trong các mối quan hệ đó, nói chung, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ chủ yếu… giữ vai trò quyết định, tùy thuộc vào quan hệ hiện thực xác định.
2. Quan điểm toàn diện trong triết học Mác – Lênin
Từ việc nghiên cứu quan điểm biện chứng về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác – Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức. Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của nó.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng, một mặt chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó. Mặt khác, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp). Đề cập đến 2 nội dung này, Lênin viết “muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó”.
Đồng thời quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên…để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân. Đương nhiên, trong nhận thức và hành động, chúng ta cũng cần lưu ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện nhất định.
Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta vừa phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó, vừa phải chú ý tới những mối liên hệ giữa sự vật ấy với các sự vật khác. Từ đó ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động vào sự vật nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ. Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ trọn vẹn. Ý thức được điều này, chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật và tránh xem nó là những chân lí bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển. Để nhận thức được sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc.
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ. Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN ĐỂ ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG
1.     Nguồn gốc của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
      Ngày 30/4/1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hoàn toàn thắng lợi ,đất nước ta hoàn toàn thống nhất sau 21 năm kháng chiến trường kì. Cả nước bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế -xã hội .Định hướng của Đảng và Nhà nước: xây dựng nền kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa tập trung mà hiện nay Đảng cộng  sản Việt Nam gọi là mô hình “quan liêu bao cấp’’.  Cơ chế này có nguồn gốc từ mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ chế quản lí kinh tế kế hoạch hóa tập trung của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô.
      Cơ chế này có những ưu điểm thích hợp cho hoàn cảnh hiện tại của đất nước lúc đó , nhưng cũng có nhiều hạn chế kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước sau này . Vậy cơ chế đó như thế nào? Có ưu nhược điểm gì? Sau đây chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu.
2.
Ngày nay, khi nhắc đến cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung ta thường chỉ nghĩ đến các mặt tiêu cực của nó.
Thứ nhất, khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên việc áp dụng các thành tựu của nền khoa học và công nghệ hiện đại thì cơ chế này thủ tiêu sự cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học công nghệ. Điều đó làm cho nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng (Hình 2).
Thứ hai, nhà nước quản lí kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu, pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Tính pháp lệnh thể hiện ở chỗ: nhà nước xây dựng các chỉ tiêu chủ quan, sau đó đưa xuống cho các doanh nghiệp, thậm chí cả hợp tác xã thực hiện. Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Hệ thống chỉ tiêu được thể hiện ở chỗ: nhà nước thực hiện chế độ bao cấp đối với mọi đơn vị cấp dưới và doanh nghiệp nhà nước kể cả hợp tác xã ( Hình 3). Cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, từ cấp vốn, sản xuất đến khâu phân phối sản phẩm nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lí với các quyết định của mình( Hình 4). Giữa cơ quan hành chính trực tiếp tham gia vào quá trình lên chỉ tiêu kế hoạch và các doanh nghiệp thực hiện chỉ tiêu thì lại không có bất kì sự ràng buộc pháp lí nào với hành động của mình, tức là dù có làm sai đi chăng nữa thì họ cũng không có vấn đề gì cả, vì vậy mà không có lí do nào khiến họ thực hiện kế hoạch một cách tối ưu nhất. Vấn đề mà cả hai bên quan tâm đó là chạy theo và chạy đua với chỉ tiêu được ấn từ trên xuống. Ở giai đoạn này, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể được coi trọng đặc biệt. Từ đó hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, triệt tiêu động lực kinh tế, lao động sáng tạo đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, bộ máy quản lí cồng kềnh, nhiều cấp trung gian . Bộ máy quản lí này vừa kém năng động vừa sinh ra đội ngũ kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu, nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động. Hoạt động kinh tế kém hiệu quả. Trong thực tế, bộ máy nhà nước và doanh nghiệp quốc doanh còn xuất hiện tính tham ô.
Thứ tư, các hoạt động giao dịch thương mại còn nhiều hạn chế: bán như cho, mua như cướp (Hình 5). Giá bán thấp hơn nhiều so với số vốn bỏ ra nên mới có chuyện nhiều người dân tìm cách giấu lúa và nhiều chuyện dở khóc dở cười. Ai mua thứ gì cũng phải đến hợp tác xã mua bán hay cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Để mua được thì rất khó khăn vì không đủ để cung cấp, mọi người phải xếp hàng chầu chực để được mua với đặc trưng là chế độ tem phiếu: vật phẩm tiêu dùng được phân phối theo định mức chứ không theo khả năng lao động. Tức là người làm ít và người làm nhiều đều được phân phát vật phẩm như nhau. Vì thế chế độ này thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động.
Thứ năm, trong thời kì này lạm phát bùng nổ (Hìnhh 6). Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ, lương công nhân không có; vật tư hàng hóa khan hiếm. Giá bán lương thực dù tăng mười lần vẫn không đủ để bù đắp chi phí. Sản xuất nông nghiệp sa sút, đầu tư trong công nghiệp giảm. Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Do đồng tiền mất giá, người ta quay sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt, còn nhanh hơn cả tăng giá hàng hóa. Tình trạng khan hiếm hàng hóa khiến cuộc sống chật vật không những về số lượng mà cả về phẩm chất của nhiều mặt hang
Tuy nhiên theo quan điểm toàn diện chỉ nhìn sự vật, hiện tượng ở một mặt, một chiều thì không thể đánh giá chính xác sự vật, hiện tượng mà cần phải đặt nó vào mối liên hệ cụ thể trong từng hoàn cảnh, điều kiện lịch sử tương ứng. Cụ thể như cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi nhìn phiến diện ta chỉ có thể nhìn thấy mặt tiêu cực mà không thể nhìn thấy những ưu điểm của nó.
Nhìn một cách toàn diện, ta thấy bên cạnh những hạn chế, yếu kém của chế độ kinh tế tập trung thì trong hoàn cảnh giai đoạn lịch sử những năm 70/XX chế độ kinh tế tập trung cũng có những ưu điểm đóng góp nhất định cho đất nước:
Xét về mặt kinh tế: Trong những năm 70/XX, thời kì kinh tế tăng trưởng theo chiều rộng, tức là dựa vào tăng đầu tư khai thác tài nguyên, sức lao động giá rẻ và một số lợi ích khác, cơ chế kinh tế tập trung có tác dụng nhất định. Nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, nhất là trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Cơ chế này đã tạo nên sự thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện các mục tiêu của cả nước .
Xét về mặt xã hội – chính trị:
Những năm 70/XX, thời kì đất nước còn đang nằm dưới bom đạn chiến tranh, hai miền Nam – Bắc còn bị chia cắt. Mục tiêu và nguyện vọng cùa cả dân tộc là đánh đuổi Mĩ Ngụy, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước “ Non sông Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Trong hoàn cảnh đất nước ấy, cơ chế quản lý kinh tế hóa tập trung đã đáp ứng được yêu cầu của thời chiến: Tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân, toàn quân, hậu phương – tiền tuyến chung lòng. Thực hiện kế hoạch hóa tập trung sẽ huy động được tối đa sức lực của toàn nhân dân trong việc xây dựng và phát triển kinh tế, giúp miền Bắc hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ hậu phương chi viện cho miền Nam. Nhiệm vụ và mục tiêu là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là của toàn dân tộc chứ không riêng cá nhân ai.
Mặt khác, những người chiến sĩ khi ra chiến trường có thề yên tâm về gia đình, cha mẹ, vợ con ở nhà bởi mọi thứ đã được nhà nước bao cấp.
Chiến thắng lịch sử năm 1975, đất nước dành thắng lợi hoàn toàn, thống nhất trên toàn lãnh thố. Sự thắng lợi ấy cũng có phần nào vai trò của cơ chế kinh tế tập trung .
Sau khi đất nước thống nhất, nhiệm vụ trước mắt quan trọng nhất lúc bấy giờ là khôi phục và phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh. Chế độ kinh tế hóa tập trung đã huy động được tinh thần, sức mạnh đoàn kết toàn dân. Nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh ở hai miền Nam – Bắc, đưa đất nước sang giai đoạn phát triển (Hình 7a,7b).
Như vậy nếu nhìn một cách toàn diện, đánh giá đa góc cạnh thì chế độ kinh tế tập trung cũng có nhiều ưu điểm nhất định trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam những năm 70/XX.
3.      
Điểm phân biệt giữa quan điểm toàn diện và chủ nghĩa Triết chung ở chỗ: trong khi nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong tổng thể các mối liên hệ của nó, quan điểm toàn diện nhận thức được đâu là mối liên hệ quan trọng, cơ bản hơn để từ đó đưa ra nhận định đúng đắn mà không hề dàn trải hay cứng nhắc. Áp dụng vào vấn đề đang bàn luận, ta dễ dàng nhận thấy mối liên hệ cơ bản nhất với cơ chế quan liêu bao cấp ở đây chính là hoàn cảnh lịch sử của đất nước.
Liên hệ một chút tới đánh giá của quốc tế thì trong bài trả lời phỏng vấn hãng tin nhà nước Rusia Today ( RT) vào ngày 15/2  vừa qua, Viện sĩ Yevgeny Primakov 85 tuổi, người từng đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng Liên Bang Nga  đã không ngớt lời tôn vinh mô hình kinh tế của Liên Bang Xô Viết trước đây. Nhưng đó chỉ là một thời đã qua với cả Liên Bang Xô Viết và Việt Nam ta bởi cả hai đều đã tiến hành cải cách kinh tế ( ở Liên Xô là năm 1965 và Việt Nam là 1986 ). Nói như thế không có nghĩa cơ chế bao cấp không hiệu quả nên phải thay đổi mà vì nó không còn phù hợp nữa.Ở nước ta, thời kì đầu với hào khí dân tộc đang lên sau chiến thắng lẫy lừng của cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như do được sống trong một chế độ hoàn toàn mới, độc lập, tự do nên người dân tràn đầy hy vọng sẵn sàng đóng góp công sức, tiền của của mình cho công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì thế lúc bấy giờ, cơ chế kế hoạch hóa tập trung là hoàn toàn phù hợp. Và thực tế đã chứng minh tính đúng đắn của nó thông qua sức mạnh toàn dân tộc mà nó tạo nên đã giúp nước nhà đánh tan giặc Mỹ, nước non thu về một mối.
Tuy nhiên, mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã dần bộc lộ rõ ràng hơn những hạn chế hết sức to lớn mà trước đấy nó được chiến tranh che lấp thì bây giờ đã gây ra hiệu quả trầm trọng mà đất nước phải gánh chịu. Nền kinh tế thiếu năng động, kém hiệu quả, đất nước rơi vào tình
trạng lạc hậu, đời sống nhân dân ngày càng trở nên khó khăn, các căng thẳng xã hội cũng vì thế mà gia tăng; dẫn đến một hệ quả tất yếu là ta phải tiến hành cải cách kinh tế năm 1986 đưa đất nước sang giai đoạn phát triển mới.
Thời thế đã thay đổi thì dứt khoát cơ chế cũng phải thay đổi sao cho phù độ  hợp nếu không muốn bị bỏ lại phía sau. Cũng giống như thế để có cái nhìn toàn diện về cơ chế kế hoạch hóa tập trung, ta phải xác định được hoàn cảnh mà nó được áp dụng, đấy là căn cứ quan trọng nhất để ta đánh giá về nó, tránh những đánh giá phiến diện, sai lầm của không ít  người hiện nay. Bản thần cơ chế nó không có lỗi, mà là được áp dụng sai thời điểm và cuối cùng thì cũng phải chịu bị phủ định trong quá trình phát triển của kinh tế đất nước bởi một cái mới hơn: cơ chế thị trường.
          Nhìn một cách toàn diện và bao quát về chế độ quan liêu bao cấp thì nó cũng có những mặt ưu điểm riêng. Tuy nhiên mặt ưu điểm lại vô cùng hạn chế thay vào đó là vô số những nhược điểm khiến nước ta phải mất nhiều thời gian để thay đổi nếp nghĩ, tác phong từ chiến đấu sang xây dựng. Bên cạnh đó, tư tưởng bao cấp, sự duy ý chí và chậm đổi mới tư duy đã đưa dân ta đứng trước bao khó khăn vào cuối những năm tám mươi, đầu chín mươi của thế kỷ trước. Hơn nữa trong nền kinh tế hội nhập hiện nay nó lại trở nên vô cùng lạc hậu và không còn phù hợp nữa. Tất cả những hạn chế trên không thể đổi lỗi cho cụ thể một cá nhân nào mà nó phải xét trên nhiều yếu tố và các mặt khác nhau.
Thứ nhất là sự quản lý chưa đúng đắn, thiếu kinh nghiệm của đảng ta. Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm, công khai thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm trước nhân dân và cho rằng, nguyên nhân chính của những sai lầm, khuyết điểm trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1985) của Đảng ta là do bệnh nóng vội, chủ quan, duy ý chí, từ đó dẫn đến sai lầm về bố trí cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý phân phối lưu thông, cải tạo xã hội chủ nghĩa; sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện.
+ Nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính, xây dựng các chỉ tiêu một cách chủ quan, áp đặt từ trên xuống dưới khiến cho các doanh nghiệp chỉ quan tâm duy nhất đến việc hoàn thành chỉ tiêu, hạn chế sáng tạo.
+ Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Làm hạn chế sự phát triển và đóng góp vào nền kinh tế của các thành phần kinh tế khác.
+ Quan hệ hàng hóa tiền tệ bị coi nhẹ
+ Bộ máy quản lý cồng kềnh nhiều cấp trung gian. Hệ thống thể chế chưa đồng bộ, còn chồng chéo, thiếu thống nhất, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, trật tự kỷ cương chưa nghiêm (Hình 8).
Hai là đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều yếu kém về phẩm chất, tinh thần, trách nhiệm. Không ít cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước làm việc thiếu tích cực. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều cán bộ, công chức bảo thủ trong cách nghĩ, cách làm, thiếu sự năng động, sáng tạo và đổi mới; cách làm việc quan liêu, hành chính hoá, không thạo việc, tác phong chậm chạp, rườm rà, thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm... dẫn đến sự trì trệ về phương thức hoạt động trong các cơ quan hành chính. Vẫn còn tồn tại không ít hiện tượng áp đặt, quan liêu cửa quyền, tham nhũng, hối lộ, tuỳ tiện, coi thường kỷ cương, kỷ luật công vụ. 
Ba là, trong xu thế hội nhập và phát triển quốc tế như hiện nay, các nước phát triển đang sử dụng những ưu thế của mình gây ảnh hưởng, tạo sức ép, làm tổn hại nền độc lập dân tộc của những nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam. Nếu như trước đây, chúng ta vì Độc lập mà buộc phải hy sinh "No cơm, ấm áo", thì nay "No cơm, ấm áo" đang trở thành "mồi nhử" của những nước lớn, nhằm làm méo mó nội dung độc lập dân tộc của nhiều nước nghèo và nhỏ. Trong bối cảnh tình hình này, không cho phép chúng ta tách mình biệt lập với cộng đồng thế giới, mà phải chủ động tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, chủ động khai thác những thuận lợi từ bên ngoài, dựa vào những tập hợp lực lượng có lợi, hạn chế những tác động tiêu cực. Quá trình đó được kết hợp chặt chẽ với yêu cầu tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Thông qua hội nhập quốc tế, khu vực các nước ASEAN để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. 
Những nguyên nhân trên đã cho ta thấy tại sao chế độ quan liêu bao cấp lại tồn tại nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với nước ta trong thời bình. Nước ta đang hướng tới đổi mới tiến hành chuyển dần từ nền kinh tế tập trung ,quan liêu ,bao cấp sang thực hiện cơ chế thị trường. Có như vậy nền kinh tế nước ta mới có thể được cải thiện và phát tiển vững mạnh. Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, tạo dựng được các mối quan hệ với các nước đang phát triển, hơn nữa là các nước phát triển để nước ta có thể chiếm lại ưu thế và sức ảnh hưởng trên thị trường quốc tế.

PHẦN KẾT LUẬN
Áp dụng quan điểm toàn diện về cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở Việt Nam đã cho ta cái nhìn sâu, rộng, đúng đắn về vấn đề này. Mặc dù còn bộc lộ rất nhiều hạn chế nhưng ta không thể phủ nhận vai trò và ưu điểm của cơ chế này. Khi nhìn nhận nó cần xem xét trên mọi mặt, mọi mối quan hệ thì mới  xác định được đâu là những mặt nổi bật, những mối  quan hệ quan trọng nhất. Từ đó ta sẽ thấy được bản chất cơ chế kế hoạch hóa tập trung không phải là tiêu cực mà chỉ là không được vận dụng sáng tạo, đúng đắn vào tình hình đất nước cũng như bối cảnh lịch sử nước ta bấy giờ ,chính vì vậy mới dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Nhận thức được điều đó Đảng ta đã đề ra đường lối phát triển kinh tế mới và khắc phục những hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung mà vẫn đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Từ vấn đề nêu trên ta càng nhận thức rõ hơn về vai trò quan trọng của quan điểm toàn diện khi nhìn nhận một vấn đề:
- Quan điểm này đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn đúng đắn, khách quan về sự vật, hiện tượng để rút ra bản chất. Phải đặt nó giữa các yếu tố bộ phận, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó và mối quan hệ giữa sự vật đó với sự vật khác ,đồng thời luôn đặt trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn  của con người.
- Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải có các biện pháp, phương tiện khác nhau để hiểu cho rộng  nhưng cũng cần xác định đâu là cái cơ bản, cái quan trọng để hiểu sâu sắc vấn đề . Mà theo như Lê - nin là kết hợp chặt chẽ giữa “chính sách dân chủ” và chính sách  “có trọng điểm





TRANH ẢNH MINH HỌA


Hình 1a

Hình 1b













Hình 2

Hình 3
Hình 4

Hình 5
Hình 6
Hình 7a
Hình 7b

Hình 8