Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT DÂN SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT DÂN SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016

Cơ sở xác định bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tính mạng bị xâm hại

Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định pháp luật quan trọng trong pháp luật dân sự, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Trong đó, tính mạng và sức khỏe con người là những quyền nhân thân quan trọng gắn liền với mỗi cá nhân được pháp luật bảo vệ. Liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng pháp luật dân sự đã quy định cơ sở xác định thiệt hại để làm căn cứ ấn định mức bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên những quy định pháp luật về vấn đề này hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, chưa rõ rang, hợp lý dẫn đến việc áp dụng vào thực tế còn chưa thống nhất. Do đó, việc nghiên cứu và đưa ra kiến nghị phù hợp với quy định của pháp luật về xác định thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe là rất cần thiết Chính vì vậy, em đã chọn đề bài: “Cơ sở xác định bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tính mạng bị xâm hại” để hoàn thành bài tập lớn học kỳ.


Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được Pháp luật Việt Nam quy định lần đầu tiên tại điều 609 BLDS năm 1995 và được BLDS năm 2005 tiếp tục hoàn thiện tại Điều 604:
“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”
Như vậy, theo quy định tại Điều 604, BLDS năm 2005 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có hành vi trái pháp luật có lỗi gây thiệt hại cho các lợi ích pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt nếu pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi của người gây thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được coi là một loại quan hệ dân sự trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây ra thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.
Do đó, có thể định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý được phát sinh dựa trên các điều kiện do pháp luật quy định khi chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ”
Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức độ bồi thường. Đây được coi là chuẩn mực pháp lý trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết những tranh chấp cụ thể về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của Pháp luật nói chung và Luật Dân sự nói riêng, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định cụ thể tại Nghị quyết số 03/2006/HĐTP-TANDTC ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh có đầy đủ 4 điều kiện sau:
Thứ nhất là phải có thiệt hại xảy ra. Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần. Đây là điều kiện tiên quyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và cũng là một điểm khác biệt so với trách nhiệm theo hợp đồng. Trong hợp đồng các bên có thể thỏa thuận việc vi phạm khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mà không cần chứng minh có thiệt hại xảy ra hay không. Trái lại, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bên bị thiệt hại bắt buộc phải chứng minh thiệt hại xảy ra. Nếu không có thiệt hại thì mặc dù có hành vi vi phạm pháp luật cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường mặc dù có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý khác.
Thứ hai, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.
Thứ ba, Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Thứ tư, phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại. Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.
Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính bằng tiền do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức. Xuất phát từ quy định của Pháp luật: thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu không có thiệt hại thì không phải bồi thường và nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại điều 605: thiệt hại bao nhiêu bồi thường bấy nhiêu. Do đó, xác định thiệt hại là việc tính toán những tổn thất cả về mặt vật chất và tinh thần làm cơ sở để ấn định mức bồi thường bằng một khoản tiền cụ thể.
Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS.
Thiệt hại về tài sản là những thiệt hại bao gồm: mất tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa, thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản.
Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe.
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm bị xâm hại.
Căn cứ xác định những thiệt hại về tinh thần rất phức tạp và cũng không thể “định giá” thiệt hại về tinh thần để xác định mức bồi thường một cách chính xác. Việc xác định trách nhiệm bồi thường tổn thất về mặt tinh thần cần được xem xét trong mối quan hệ xã hội cụ thể của người bị gây tổn hại về mặt tinh thần. Trước hết là phải xác định hoàn cảnh riêng của người đó trong tổng thể các quan hệ xã hội mà người đó tham gia. Những yếu tố xã hội liên quan đến người bị tổn thất tinh thần được xác định trên cơ sở khách quan và phải được làm rõ đối với từng trường hợp cụ thể. Các yếu tố xã hội liên quan có thể như: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, trình độ văn hóa, hoàn cảnh của người đó trong quan hệ xã hội, nghề nghiệp, trong quan hệ dòng họ, thứ bậc của người đó trong gia tộc, dòng họ.
Chính vì vậy, bồi thường thiệt hại về tinh thần nhằm mục đích chủ yếu là an ủi, xoa dịu nỗi đau, động viên người bị hại cũng như người thân của họ về mặt tinh thần đồng thời là biện pháp giáo dục nhằm ngăn chặn hành vi trái pháp luật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Pháp luật dân sự đã buộc người xâm hại: “bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân thích gần gũi của người đó phải gánh chịu”
Và theo hướng dẫn tại nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì thiệt hại do tổn thất về tinh thần được xác định như sau:
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mấy uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được xác định theo quy định tại Điều 609 BLDS, quy định cụ thể, chi tiết tại mục II, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thiệt hại đó bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
“Ðiều 609. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
2. Người xâm phạm sức khỏe của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Ðiều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”
Thứ nhất, chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại  bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có). Những khoản chi phí trên được xác định trên cơ sở hoá đơn, chứng từ hợp lệ theo chỉ dẫn của bác sĩ hoặc yêu cầu của bệnh viện, cơ quan trực tiếp cứu chữa cho nạn nhân.
Thứ hai là thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.
*) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:
- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người bị xâm phạm sức khỏe nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khỏe bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.
*)Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện theo hai bước sau:
Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không có. Trong trường hợp người bị gây thiệt hại có thu nhập thì thu nhập thực tế là bao nhiêu
Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định ,như đã trình bày ở phần trên. Trong trường hợp người bị gây thiệt hại về sức khỏe không có khoản thu nhập thực tế nào trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất. Còn trường hợp, trong thời gian điều trị người bị thiệt hại về sức khỏe vẫn có thu nhập nhưng thấp hơn thu nhập thực tế trước khi bị gây thiệt hại thì khoản tiền chênh lệch là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.
Thứ ba là chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị. Người bị gây thiệt hại về sức khỏe không thể tự mình phục vụ cho mình trong thời gian điều trị (gẫy chân, hôn mê do chấn thương, mù mắt,…) cần thiết phải có người chăm sóc. Do đó, người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại.
Một là chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.
Hai là thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:
- Người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất do phải nghỉ việc.
- Trong trường hợp người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.
- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.
- Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.
Đặc biệt là trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc. Người bị thiệt hại về sức khỏe không còn khả năng lao động là người sau khi bị gây thiệt hại về sức khỏe bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên. Do đó, nếu người bị gây thiệt hại về sức khỏe mất hoàn toàn khả năng lao động thì người gây thiệt hại phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại. Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.
          Ngoài các khoản bồi thường những tổn thất về vật chật như đã xác định ở trên, theo quy định tại khoản 2 Điều 609 BLDS 2005 và tiểu mục 1.5, mục 1, phần 1 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thì người xâm phạm sức khỏe của người khác còn phải có trách nhiệm bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại về sức khỏe phải gánh chịu.
Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.
Trong mọi trường hợp, khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…
Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Ví dụ: Khoảng 8h30 ngày 10/10/2011, chị Mai Thị Tr (30 tuổi, ngụ tổ 8, phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn) đang điều khiển xe mô tô trên phố Đội Kỳ (khu vực tổ 7, phường Sông Cầu) thì bị 2 đối tượng đi xe máy nhãn hiệu Jupiter màu đỏ vượt lên, hắt a-xít vào mặt. Hậu quả, nạn nhân vốn là một cô gái xinh đẹp, trắng trẻo bậc nhất địa phương đã bị bỏng sâu trên diện rộng, phải điều trị tích cực tại Viện Bỏng Quốc gia, bị tổn hại sức khỏe vĩnh viễn với tỉ lệ thương tật 80%. TAND thị xã Bắc Kạn đã tuyên các bị cáo Nguyễn Thị Mai, Đỗ Ngọc Hiền, Kiều Phúc Cường , Vương Trí Dũng, Nguyễn Tiến Tuấn, Đỗ Hoành Mạnh phạm tội “Cố ý gây thương tích”, ngoài hình phạt tù đối với các bị cáo, Tòa còn buộc các bị cáo trên phải liên đới bồi thường thiệt hại sức khỏe cho chị Mai Thị Tr 186,4 triệu đồng bao gồm chi phí cho việc cứu chữa điều trị, chi phí chăm sóc phục hồi sức khỏe, thu nhập bị mất và tổn thất về tinh thần.
“Ðiều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.
2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Ðiều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”
Căn cứ vào khoản 2, Điều 610 BLDS và hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thì thiệt hại về vật chất do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
Thứ nhất là chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết, bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP.
Thứ hai là chi phí hợp lý cho việc mai táng, bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...
Thứ ba là khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết. Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm. Người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết. Khoản tiền cấp dưỡng mà những người được cấp dưỡng được nhận tương ứng với khoản tiền cấp dưỡng mà người bị thiệt hại cấp dưỡng trước khi tính mạng bị xâm phạm. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.  Người có nghĩa vụ bồi thường khoản tiền cấp dưỡng có thể bồi thường một khoản tiền cao hơn mức người đó phải thực hiện theo sự tự nguyện hoặc thỏa thuận với người được cấp dưỡng. Trường hợp người gây thiệt hại về tính mạng của người khác không có khả năng và điều kiện kinh tế trước mắt và lâu dài để có khả năng bồi thường khoản tiền cấp dưỡng thì trường hợp này coi như là rủi ro. Những người được hưởng khoản tiền cấp dưỡng này là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc thứ hai của nhau. Quy định này xuất phát từ những quy định của pháp luật là giữa họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau. Do đó, người đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bị gây thiệt hại về tính mạng thì người gây thiệt hại phải có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường khoản tiền cấp dưỡng này.
Những người được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng được xác định cụ thể như sau:
- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;
- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;
- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
          Theo quy định của pháp luật, những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau như anh, chị em ruột, các cháu nội ngoại với ông, bà nội ngoại có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau được hưởng tiền cấp dưỡng khi người gây thiệt hại về tính mạng có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống, bao gồm:
- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Thiệt hại về tinh thần của cá nhân do tính mạng bị xâm phạm là đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm,... mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.
Theo quy định tại tiểu mục 2.4 thuộc mục II của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại. Điều này xuất phát từ đạo lý truyền thống, bản sắc, phong tục của nhân  dân Việt Nam đồng thời mở rộng thẩm quyền của tòa án trong việc quyết định phân chia khoản tiền bù đắp về tinh thần cho người thân thích của người bị gây thiệt hại về tính mạng. Xem xét chủ thể bị gây thiệt hại về tính mạng trong tổng thể các quan hệ xã hội mà người đó tham gia, tìm hiểu và phân tích kỹ hoàn cảnh riêng của họ thì tòa án mới có thể đánh giá sự mất mát, những tổn thất về tinh thần mà những người thân thích của người bị gây thiệt hại phải gánh chịu. Ở mỗi hoàn cảnh, vị trí, quan hệ thân thích khác nhau khác nhau thì sự mất đi người bị gây thiệt hại về tính mạng tác động đến tâm lý của những người còn sỗng là khác nhau. Pháp luật không thể đưa ra điều luật cụ thế nào để xác định cụ thể thiệt hại về tinh thần là bao nhiêu cũng như ấn định mức bôì thường thiệt hại về tinh thần là một khoản tiền cụ thể. Mọi sự tính toán đại số không thể áp dụng được cho việc xác định thiệt hại về mặt tinh thần. Khoản tiền bù đắp những tổn thất về tinh thần không thể xác định chính xác, nó chỉ mang tính tương đối nhằm mục đích xoa dịu nỗi đau của những người thân của người bị thiệt hại về tính mạng. Việc đánh giá và xác định khoản tiền bồi thường tổn thất về mặt tinh thần có hợp tình và hợp lý hay không phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm sống, sự nhạy cảm của Thẩm phán cũng  như các Luật sư, những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước tòa án.
Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do xâm phạm tính mạng là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại về tính mạng. Pháp luật quy định cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị gây thiệt hại về tính mạng được hưởng khoản tiền bù đắp về tinh thần là căn cứ mối quan hệ thân thuộc nhất trong gia đình và dòng họ và truyền thống ở Việt Nam (quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng). Do đó, khi người bị gây thiệt hại về tính mạng mất đi thì những người này được suy đoán là những người bị tổn thất tinh thần lớn nhất. Như vậy, pháp luật quy định những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng khoản tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là hoàn toàn hợp lý.
Trong trường hợp không có người thuộc hàng thừa kế thứ nhất thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại.
Theo quy định tại điểm c, tiểu mục 2.4, mục II của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thì trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần.
Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Ví dụ: Khoảng 10 giờ ngày 7/9/2011, tại tầng 2 Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới Viện Dầu khí Việt Nam số 173, đường Trung Kính, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội, Đặng Minh Đức (sinh năm 1982, phường Khương Đình, quận Than Xuân, thành phố Hà Nội) đã có hành vi dùng tay phải đấm mạnh vào hàm của ông Trần Văn Toại làm ông Toại ngã xuống, phần đầu ông Toại va đập với thành ghế dẫn đến bị chấn thương nặng. Sau khi được đưa đi cấp cứu ông Toại đã tử vong tại bệnh viện 108 ngày 11/9/2011. Theo bản án số 624/2012/HSPT ngày 04/6/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Đặng Minh Đức bị xử phạt 12 năm tù về tội cố ý gây thương tích và buộc Đức phải bồi thường cho người bị hại ông Trần Văn Toại (đã chết) do bà vợ Kiều Thị Sen đại diện hợp pháp số tiền là 93.624.000 đồng chi phí điều trị, viện phí, thuốc men mai tang phí và tổn thất tinh thần đồng thời buộc Đức phải bồi thường tiền cấp dưỡng nuôi cháu Trần Kiều Mỹ sinh ngày 3/1/1995 với mức 1000.000/tháng cho đến khi cháu Mỹ tròn 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác; cháu Trần Kiều Hạnh sinh ngày 21/1/2000 với mức 1000.000/tháng kể từ tháng 9/2011 cho đến khi cháu Hạnh tròn 18 tuổi  hoặc có sự thay đổi khác và tiền cấp dưỡng nuôi cụ Đặng Thị Thung (mẹ của Trần Văn Toại không có khả năng lao động), sinh năm 1924 kể từ tháng 9/2011 cho đến khi cụ Thung qua đời hoặc có sự thay đổi khác.
phạm
Điều 612, BLDS 2005:
“1. Trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường cho đến khi chết.
2. Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng trong thời hạn sau đây:
a) Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;
b) Người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.”
Thời hạn được bồi thường là khoảng thời gian người được bồi thường được hưởng do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm. Thời hạn được bồi thường phụ thuộc vào khả năng người bị thiệt hại có tạo ra thu nhập không sau khi đã ổn định sức khỏe và người được cấp dưỡng còn cần phải cấp dưỡng không (căn cứ vào khả năng lao động để xác định thời hạn được hưởng)
          Căn cứ vào quy định tại Điều 612, BLDS năm 2005 và hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thì trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được nuôi dưỡng suốt đời. Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà họ có nghĩa vụ cấp dưỡng được hưởng đến khi họ đủ tuổi thành niên hoặc có thu nhập nuôi sống bản thân. Trong trường hợp người này đã thành niên nhưng không có khả năng lao động nuôi sống bản thân thì họ cũng được hưởng tiền cấp dưỡng suốt đời.
Hiện nay những quy định của Pháp luật có liên quan đến việc xác định thiệt hại do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm vẫn còn những hạn chế và bất cập, nhiều quy định vẫn chưa rõ ràng dẫn đến việc áp dụng trên thực tiễn còn gặp nhiều vướng mắc, không thống nhất và tồn tại nhiều mâu thuẫn. Do vậy việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật cần được đẩy mạnh và quan tâm đúng mức.
Thứ nhất, trong trường hợp thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại. Quy định này chưa hẳn hợp lý và không thể áp dụng được trong mọi trường hợp. Ví dụ, nếu người bị thiệt hại là người thực hiện công việc lao động đặc thù, độc quyền trên thị trường (thầy lang bốc thuốc), hoặc những người có thu nhập trong một khoảng thời gian dài lao động (nghề trồng rừng, trồng cây lâu năm) thì rất khó có thể xác định mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại. Để giải quyết vấn đề này, có quan điểm cho rằng: “nếu không thể xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại thì phải xác định theo mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.
Thứ hai, nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại chưa đi làm và cũng chưa có thu nhập thực tế thì người này sẽ không được bồi thường do không có thu nhập thực tế. Tuy nhiên trong trường hợp ngày bị xâm phạm sức khỏe là ngày đầu tiên người đó đi làm thì việc xác định người này không được bồi thường thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút là không phù hợp. Ví dụ, một sinh viên A mới ra trường ký hợp đồng lao động với công ty B, lương/tháng là 2 triệu đồng; vào ngày đầu tiên A đi làm thì bị B đâm xe vào làm A bị gãy chân phải nghỉ ở nhà 1 tháng. Rõ ràng, nếu không có sự kiện B đâm A làm gãy chân thì A có thể lao động bình thường và có thu nhập. A đã bị thiệt hại về thu nhập. Vậy theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì A cũng phải được nhận khoản tiền bồi thường do thu nhập bị mất. Như vậy, khi có căn cứ xác định người bị thiệt hại mất một khoản thu nhập dù là người này chưa tham gia lao động trước khi bị thiệt hại) thì Tòa án cần phải xem xét xác định thu nhập bị mất để bồi thường cho họ.
 Thứ ba, xác định thu nhập bị mất và giảm sút của người bị thiệt hại chỉ được áp dụng trong thời gian người bị thiệt hại phải nằm điều trị là không hợp lý. Vì trong trường hợp sau khi điều trị mà thu nhập của họ vẫn bị mất thì họ cũng không được bồi thường thu nhập bị mất mà chỉ bồi thường những chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại (mục 4 phần II, nghị quyết 03/2006). Nếu người đó có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con và bố mẹ thì lấy tiền đâu ra. Còn trường hợp sau khi điều trị  người bị thiệt hại bị mất một phần khả năng lao động thì không có hướng dẫn cụ thể. Do vậy, phải chăng Pháp luật nên có quy định về việc bồi thường khoản tiền cấp dưỡng cho người mà người bị thiệt hại đang thực tế cấp dưỡng nếu người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động. Còn đối với trường hợp sau khi điều trị người bị thiệt hại mất đi một phần khả năng lao động dẫn đến thu nhập bị giảm sút thì người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền giảm sút cho đến khi sức khỏe của người đó phục hồi hoặc cho đến khi người đó đến độ tuổi người lao động nghỉ hưu hoặc kết thúc hợp đồng lao động mà người bị thiệt hại đã ký kết với người sử dụng lao động.
Theo hướng dẫn tại điểm b, tiểu mục 1.4, phần II, nghị quyết 03 thì “chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.” Quy định này có một số điểm chưa hợp lý.
Một là, trong trường hợp người chăm sóc người bị thiệt hại là người thân của họ đang tham gia lao động có thu nhập thực tế cao hơn so với mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú nhưng phải nghỉ việc để chăm sóc người bị thiệt hại. Do đó, áp dụng quy định này là chưa phù hợp, không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người chăm sóc người bị thiệt hại.
Hai là, việc xác định tiền bồi thường cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do bị mất khả năng lao động không phù hợp nếu theo chỉ định của bệnh viện hoặc trên thực tế, việc chăm sóc cần thiết phải có hai người. Rõ ràng việc bồi thường chi phí cho hai người chăm sóc ở trường hợp này là hoàn toàn hợp lý và cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho người thiệt hại và người chăm sóc người bị thiệt hại.
Như vậy, Pháp luật nên bổ sung quy định về trường hợp người chăm sóc người bị thiệt hại là người thân của người bị thiệt hại có mức thu nhập cao hơn mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú thì chi phí này được tính bằng thu nhập của họ trước khi nghỉ việc Và trong trường hợp theo chỉ định của bác sĩ cần thiết phải có nhiều người chăm sóc cho người bị thiệt hại mất khả năng lao động thì phải tính tiền bồi thường thiệt hại cho họ.
Thứ nhất về sự chênh lệch quá lớn giữa mức bồi thường tổn thất tinh thần khi xâm phạm tính mạng trong luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nhà nước năm 2009 (khoản 3 Điều 47 “Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là ba trăm sáu mươi tháng lương tối thiểu”) và Bộ luật dân sự năm 2005 (khoản 2 Điều 610). Rõ ràng là cá nhân chết trong trường hợp này hay trường hợp kia đều có hậu quả pháp lý như nhau là tư cách chủ thể của người chết chấm dứt. Không thể dựa vào sự kiện người đó chết để xác định mức bồi thường tổn thất tinh thần là khác nhau được. Cho nên, quy định bù đắp tổn thất về tinh thần do xâm phạm về tính mạng là 60 tháng lương tối thiểu trong BLDS như hiện nay là không thỏa đáng. Do đó, để đảm bảo tính công bằng về giá trị của con người thì Khoản 2 điều 610 cần được sửa đổi như sau: “… mức bồi thường tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức bù đắp là 360 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.
Thứ hai, Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao mới hướng dẫn trường hợp có một người chết và có nhiều người được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, nhưng chưa hướng dẫn trường hợp có nhiều người bị chết mà có một người hoặc một số người  thân thích của  người đã chết được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần thì xác định mức bồi thường như thế nào?  Về vấn đề này tác giả Hoàng Kỳ đã đưa ra một vụ án liên quan và các quan điểm để mọi người cùng bàn luận để đưa ra giải pháp tối ưu nhất:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, trường hợp trong một gia đình có nhiều người bị chết thì những mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa cũng không đ­ược vư­ợt quá 60 tháng lương tối thiểu. Nếu áp dụng theo hướng này thì thật sự bất công cho gia đình người bị thiệt hại vì rõ ràng rằng nhiều người bị xâm phạm tính mạng thì tổn thất tinh thần lớn hơn gấp nhiều lần so với một người bị xâm phạm tính mạng. Hơn nữa nếu những người bị chết trong một gia đình thì nỗi đau, tổn thất tinh thần còn lớn hơn nữa.
Quan điểm thứ hai cho rằng, nếu trong một gia đình có nhiều người bị xâm phạm về tính mạng, thì ng­ười thứ nhất đ­ược bồi thường mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu, từ người thứ hai trở đi đ­ược tính theo tỷ lệ % giảm dần của mức tối đa 60 tháng lư­ơng. Ví dụ: Nếu ng­ười bị xâm phạm tính mạng thứ nhất đ­ược tính mức tối đa là 60 tháng l­ương, thì ngư­ời bị xâm phạm tính mạng thứ hai được tính 80% của 60 tháng l­ương là 48 tháng l­ương, còn ng­ười bị xâm phạm tính mạng thứ ba đư­ợc tính 60% của 60 tháng l­ương là 36 tháng lương. Theo đó nếu 3 người chết thì được bồi thường tổn thất tinh thần là 144 tháng lương. Giải pháp theo quan điểm này khó có thể thực hiện được vì thiếu tính khả thi, con số tỷ lệ trên được xác định dựa trên cơ sở nào, không thể đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.
Quan điểm thứ ba cho rằng, khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự quy định: “Người xâm phạm tính mạng của ngư­ời khác” có nghĩa là xâm phạm đến tính mạng của một người chứ không thể hiểu là xâm phạm đến tính mạng của nhiều người khác. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu là đối với một người bị xâm phạm tính mạng. Nếu có nhiều người bị xâm phạm tính mạng, thì cứ mỗi người bị xâm phạm đến tính mạng, những người thân thích được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu. Ví dụ, nếu có 3 ngư­ời bị xâm phạm tính mạng thì những ngư­ời thân thích đư­ợc hư­ởng tối đa không quá 180 tháng lư­ơng tối thiểu. Giả thiết có ba người chết trong ba gia đình khác nhau thì người xâm phạm đến tính mạng cũng phải bồi thường khoản tiền cho mỗi người chết là không quá 60 tháng lương. Một gia đình có ba người chết thì sự đau thương mất mát về tinh thần còn lớn hơn nhiều so với trường hợp ba người chết trong ba gia đình. Những người theo quan điểm này cho rằng, nạn nhân của tổn thất này cần được bảo vệ ở mức tối đa bởi lẽ không có gì có thể bù đắp những đau thương khi người thân bị xâm hại tính mạng. Do vậy trước những giải pháp khác nhau mà văn bản có thể cho phép áp dụng thì nên lựa chọn giải pháp tốt nhất cho gia đình nạn nhân. Hơn thế nữa, những tổn thất này thường là do xuất phát từ tai nạn giao thông mà đằng sau các chủ phương tiện giao thông còn có các công ty bảo hiểm. Việc đứng về phía gia đình người bị xâm phạm tính mạng đồng nghĩa với việc nâng cao trách nhiệm của các chủ phương tiện giao thông, tăng tính thận trọng của họ khi đưa phương tiện vào lưu thông làm giảm đi tai nạn giao thông. Như vậy, quan điểm này mang tính khả thi, được đánh giá là hợp tình, hợp lý nhất.
Quan điểm thứ tư cho rằng: Cần đánh giá xác định đối với từng vụ việc cụ thể về: Vị trí, vai trò, tầm quan trọng, khả năng lao động, mức độ ảnh hưởng của người bị thiệt hại trong gia đình; kết hợp với việc xem xét hoàn cảnh kinh tế của bên co trách nhiệm bồi thường để ấn định mức bồi thường tổn thất tinh thần cho hợp lý. Quan điểm này khá thuyết phục tuy nhiên việc đánh giá về tinh thần một cách chính xác là không thể vì tổn thất tinh thần là những đau đớn, mất mát về tình cảm, hụt hẫng suy sụp tinh thần thuộc về nội tâm của mỗi người mà không ai có thể cân đo đong đếm, đánh giá một cách chính xác được. Do đó, nếu áp dụng theo quan điểm này sẽ dẫn đến sự áp đặt ý chí cá nhân, theo cảm tính của thẩm phán, không thống nhất giữa các cơ quan xét xử.
Từ việc làm rõ, giải quyết được vần đề này chúng ta có thể xem xét lại Vụ án Lê Văn Luyện cướp tiệm vàng Ngọc Bích, giết hại ba người vợ chồng chủ tiệm vàng là anh Trịnh Thành Ngọc (37 tuổi) - chị Đinh Thị Chín (35 tuổi), cháu Trịnh Thị Thảo (18 tháng tuổi) và làm thương tích 74,6% cho cháu Trịnh Thị Bích (9 tuổi). Ngày 30/3/2012, tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài việc phải chịu hình phạt tù 18 năm vì các tội danh: giết người, cướp tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì Tòa án nhân dân Tỉnh Bắc Giang buộc Lê Văn Luyện, Lê Văn Miên và bà Trương Thị Thơm phải có trách nhiệm bồi thường: chi phí mai táng phí 64 triệu đồng, điều trị cho cháu Bích tại BV Việt Đức là 57,6 triệu đồng, mất thu nhập của người nuôi cháu Bích trong thời gian nằm viện là 19,5 triệu đồng, tiền thuê xe đưa đón đưa đi viện 20 triệu đồng, bồi dưỡng cháu Bích sau khi ra viện là 25 triệu đồng, tiền tổn thất tinh thần là 124,5 triệu đồng ngoài ra, buộc Luyện cấp dưỡng cho cháu Bích mỗi tháng là 1,5 triệu đồng cho tới khi cháu đủ 18 tuổi. Như vậy, Luyện đã xâm phạm đến tính mạng của 3 người là cha, mẹ và em gái của bé Bích đồng thời xâm phạm đến sức khỏe, gây thương tích cho Bích tới trên 74%, tổn thất về mặt tinh thần đối với gia đình anh Ngọc đặc biệt là bé Bích là vô cùng to lớn. Không hiểu rằng, Tòa án đã căn cứ vào đâu, dựa vào cơ sở nào để xác định thiệt hại về tinh thần ấn định khoản tiền bồi thường tổn thất về tinh thần cho gia đình bé Bích là 124,5 triệu đồng.
          Như vậy, pháp luật cần có quy định cụ thể về việc xác định tổn thất tinh thần khi một người xâm phạm tính mạng của nhiều người để khắc phục những thiếu sót hiện tại, áp dụng pháp luật thống nhất, chuẩn xác, đảm bảo công bằng cho các chủ thể. Quy định theo hướng xác định mức bù đắp tổn thất tinh thần lớn nhất cho gia đình nạn nhân là phù hợp nhất. Tức là trong trường hợp không có thỏa thuận thì người xâm phạm tính mạng của nhiều người phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho gia đình nạn nhân tối đa bằng 60 tháng lương tối thiểu nhân với số người thiệt mạng.
Theo khoản 2 điều 610 thì trong bất kỳ trường hợp nào những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần. Phải khẳng định rằng khoản tiền bù đắp tổn thất này không phải là di sản thừa kế nên theo quy định của pháp luật hiện hành thì người bị truất, bị tước quyền hưởng di sản thừa kế cũng được nhận khoản tiền tổn thất về tinh thần này. Đây là một điểm không hợp lý. Bởi lẽ, người bị truất, bị tước quyền hưởng di sản thừa kế là những người có mối quan hệ tình cảm không tốt, đã bị sứt mẻ với người bị xâm phạm tính mạng khi còn sống. Người đó chết đi khiến họ không những không đau buồn mà có thể còn cảm thấy “hạnh phúc, sung sướng”, mong muốn cho người đó “chết càng sớm càng tốt”. Pháp luật để người đã bị truất, bị tước quyền hưởng di sản được hưởng khoản tiền bồi thường tổn thất về tinh thần như hiện nay là không thỏa đáng. Do đó, khoản 2 Điều 610 cần được sửa đổi theo hướng loại trừ người đã bị truất quyền hưởng di sản hoặc người bị tước quyền hưởng di sản được nhận khoản tiền bù đắp về tinh thần.
So sánh giữa mức bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, pháp luật vô hình chung đã xác định thiệt hại do xâm phạm về sức khỏe lớn hơn rất nhiều so với thiệt hại do xâm hại về tính mạng. Trên thực tế, khi áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về xác định thiệt hại do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm thì khoản tiền mà người xâm phạm đến sức khỏe bồi thường lớn hơn rất nhiều so với khoản tiền mà người xâm phạm tính đến tính mạng người khác. Điều này đã dẫn đến thực trạng là người gây thiệt hại “trốn tránh”, giảm bớt trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng cách cố tình làm nạn nhân chết ngay, “thà để nạn nhân chết còn hơn là để nạn nhân sống mà thương tật, phải bồi thường cho nạn nhân suốt đời”. Đặc biệt là các tai nạn giao thông do người điều khiển phương tiện cơ giới, trọng tải lớn (congtainer, xe tải,…) gây ra. Họ có một bài toán so sánh đơn giản: nếu nạn nhân chết ngay thì chỉ phải bồi thường tiền mai táng phí, tiền cấp dưỡng và tiền bồi thường tổn thất về tinh thần tối đa là 60 tháng lương tối thiểu, không đáng kể gì so với trường hợp nạn nhân bị thương tật, thậm chí mất khả năng lao động thì phải bồi thường rất nhiều khoản chi phí: chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút; thu thập thực tế bị mất, bị giảm sút, chi phí cho người chăm sóc nạn nhân, khoản tiền bù đắp về tinh thần,…chính vì vậy khi đã gây ra tai nạn, tài xế đã cố tình làm cho nạn nhân chết ngay tại chỗ. Điển hình phải kể đến hành vi của Đặng Hữu Anh Tuấn ngày 14/5/2009 trên đường Lũy Bán Bích, quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh: Tuấn đã cố tình điều khiển congtainer làm xe cán lên người nạn nhân 3 lần liên tiếp, gây hậu quả chết người. Mong muốn giảm trách nhiệm dân sự là một trong những lý do Tuấn thực hiện hành vi này. Đây là hành vi bất chấp mạng sống của người khác có tính chất côn đồ, gây hoang mang trong dư luận, phản ánh sự xuống cấp về đạo đức. Do vậy, pháp luật cần điều chỉnh sao cho phù hợp trong việc xác định thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng để khắc phục thực trạng đau buồn trên.
Quy định liên quan đến việc xác định khoản tiền cấp dưỡng cũng chưa rõ ràng, dẫn đến việc xác định khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại phải có nghĩa vụ cấp dưỡng trên thực tế không có sự thống nhất, mỗi tòa lại đưa ra một mức bồi thường khác nhau. Nếu áp dụng một cách tự phát và không có căn cứ như này sẽ không đảm bảo tính công bằng giữa những người bị hại và thân nhân của họ, mà tính mạng con người là như nhau nên không thể có sự phân biệt. Do đó, để đảm bảo cho việc áp dụng thống nhất và tạo ra sự phù hợp, thống nhất giữa các tòa cũng như các vụ án thì pháp luật cần sửa đổi quy định về khoản tiền cấp dưỡng  này. Nhiều quan điểm cho rằng quy định này nên theo hướng như Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 (“Mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương tối thiểu chung; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối thiểu chung”- khoản 1 Điều 65). Theo đó, điểm c khoản 1 Điều 610 BLDS nên sửa như sau: “Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội” và mục 2.3 Mục 2 Phần II Nghị quyết 03/2006 nên sửa “tiền cấp dưỡng hợp lí phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường” thành “tiền cấp dưỡng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội”.
Chi phí hợp lý là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi phí. Khi người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường các khoản chi phí liên quan đến việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút thì phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và “phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý” thì mới có thể được bồi thường (vé phương tiện đi lại, hóa đơn thanh toán tiền mua thuốc, tiền viện phí). Tuy nhiên trên thực tế rất nhiều trường hợp mà việc chi phí những khoản này không thể có những bằng chứng như trên thì việc chứng minh có chi phí hợp lý của người bị thiệt hại lại không dễ dàng. Ví dụ, người bị thiệt hại về sức khỏe đi bằng xe ôm, dùng các bài thuốc dân gian, chữa bệnh ở cơ sở tư nhân,…Trường hợp này Tòa án không thể áp dụng quy định này của Pháp luật mà Tòa án đã căn cứ vào tình hình thực tế để xác định mức chi phí này.
          Do đó, pháp luật cần có quy định về việc công nhận các chi phí hợp lý không có chứng từ hay giấy biên nhận hợp lệ do người thiệt hại chứng minh khi có căn cứ xác định (ví dụ như thông qua người làm chứng: bác xe ôm, chủ cơ sở chữa bệnh tư,…) để đảm bảo việc áp dụng của cơ quan xét xử có căn cứ pháp luật.


Như vậy, cơ sở xác định thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng là vấn đề rất phức tạp đòi hỏi yêu cầu về tính hợp lý và sự linh hoạt đối với từng trường hợp. Do đó, khi Tòa án xét xử cần xem xét thận trọng những yếu tố khách quan để có thể xác định chính xác mức bồi thường, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Pháp luật về xác định thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe cần được tiếp tục hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý, áp dụng thống nhất các quy định pháp luật giữa các cấp xét xử ở các tòa án, góp phần xây dựng nền pháp chế xã hội chủ nghĩa.

1. Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 2, Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2012.
2. TS.Lê Đình Nghị, TS.Nguyễn Thị Nga-ThS.Nguyễn Bá Bình-ThS.Vũ Thị Hồng Yến, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 2, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm 2011.
3. TS.Phùng Trung Tập, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng, Nhà xuất bản Hà Nội
4. PGS Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học BLDS năm 2005 (tập II) phần thứ ba: nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự - Bộ tư pháp Viện khoa pháp lý, nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2009.
5. Nguyễn Văn Hợi, “Những hạn chế và bất cập trong việc xác định thiệt hại khi sức khỏe bị xâm phạm theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành”, Tạp chí tòa án nhân dân số tháng 7/2011
6. Nguyễn Văn Hợi, “xác định thiệt hại khi tính mạng bị xâm phạm theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số tháng 8/2011.
7. Đỗ Văn Đại, Bồi thường thiệt hại về tinh thần trong pháp luật Việt Nam, tạp chí tòa án nhân dân số 16/2008.
8. Hoàng Kỳ, Vấn đề bồi thường tổn thất tinh thần theo khoản 2 Điều 610 Bộ luật dân sự, tạp chí Tòa án nhân dân số 18.
9. Đinh Văn Quế, Một số ý kiến về khoản tiền bù đắp về  tinh thần do bị  xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín quy định tại Bộ luật dân sự, Tạp chí tòa án nhân dân số 20/2009.
10.Nguyễn Thị Kim Vinh, Vấn đề bồi thường tổn thất tinh thần, Tạp chí tòa án nhân dân số 21/2009.
11. Vũ Tuấn Dũng, Về bài “vấn đề bồi thường tổn thất tinh thần theo khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự”, tạp chí toà án nhân dân, số 20/2009.
12. Đỗ Văn Đại, Trao đổi về bài vấn đề bồi thường tổn thất về tinh thần theo khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự, Tạp chí tòa án nhân dân số 21/2009.
13. website:

http://doc.edu.vn/

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2016

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường



A – MỞ ĐẦU
          Môi trường – điều kiện sống của con người đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng do các hành vi xả thải chất thải chưa qua xử lí của một bộ phận không nhỏ các công ty, doanh nghiệp hiện nay tại Việt Nam. Vấn đề bảo vệ môi trường đã trở nên cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết bởi ô nhiễm môi trường đang từng ngày đe dọa cuộc sống, tính mạng của đại đa số dân cư sinh sống gần các khu vực có chất lượng môi trường không đạt tiêu chuẩn. Trước tình hình đó, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường đã được pháp luật ghi nhận lần đầu tiên tại Luật Bảo vệ môi trường (Luật BVMT) năm 1993, theo đó “tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Trách nhiệm này được phát triển hơn thông qua các quy định tại BLDS 2005 và LBVMT 2005. Để hiểu rõ về vấn đề này, em chọn đề 12: “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường”.
B – NỘI DUNG
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
     1. Khái niệm ô nhiễm môi trường
“Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường, thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và đặc tính vật lý, hóa học, nhiệt độ, sinh học, chất hòa tan, chất phóng xạ… ở bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã được xác định”.
     2. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm bồi thường  thiệt hại được hình thành giữa các chủ thể bất kì mà trong đó người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là quy định của pháp luật dân sự, xác định người có hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của các chủ thể khác và gây ra thiệt hại thì phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra”.
Ý nghĩa của việc xác định thiệt hại ngoài hợp đồng: việc xác định trách nhiệm thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm khắc phục những hậu quả về tài sản, phục hồi lại tình trạng về tài sản của người bị thiệt hại trong phạm vi, khả năng nhất định, qua đó nhằm đảm bảo lợi ích của người bị thiệt hại. Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không những đảm bảo việc đền bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
     3. Thiệt hại trong lĩnh vực môi trường
Thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là nói đến hai loại thiệt hại: một là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, loại thiệt hại này thường gắn liền với chủ thể  bị thiệt hại là nhà nước, người đại diện có lợi ích chung của cộng đồng. Hai là, thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, thiệt hại này thường gắn liền với chủ thể là cá nhân, tổ chức cụ thể.
     4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường là hậu quả pháp lí bất lợi mà các tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi có hành vi làm tổn hại môi trường, gây thiệt hại cho nhà nước  cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khác.
II. Chủ thể tham gia quan hệ bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
     1. Chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
          Trong chương XXI – Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, pháp luật có quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân ( điều 606 – BLDS ). Việc xác định ai là người phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp khác nhau: cá nhân đó là người đã thành niên, người chưa thành niên hay người mất năng lực hành vi dân sự. Pháp luật quy định chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là căn cứ để bảo vệ lợi ích của người bị thiệt hại hoặc nhân thân của người bị thiệt hại để có căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại. Qua đó, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Như vậy, việc bồi thường thiệt hại phải do người có khả năng bồi thường, mặc dù hành vi gây ra thiệt hại có thể không do chính họ thực hiện. Tuy nhiên, BLDS chỉ quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân mà không quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể khác. Do đó, các chủ thể khác đương nhiên được coi là người có năng lực bồi thường thiệt hại.
          Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân được quy định tại điều 606 – BLDS và được hướng dẫn tại tiểu mục 3, mục I, Nghị quyết 03/2006/HĐTP – TANDTC ngày 8 – 7 – 2006 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao dựa trên mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản, khả năng bồi thường của cá nhân và xác định cá nhân gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại theo mức độ năng lực hành vi dân sự khác nhau. Mặt khác, căn cứ vào điều 624 BLDS 2005: “ Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi”. Và khoản 2, điều 13 NĐ 113/2010 quy định: “ Tổ chức, cá nhân làm ô nhiễm môi trường, suy thoái phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đối với môi trường do mình gây ra, đồng thời phải chi trả toàn bộ chi phí xác định thiệt hại và thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại cho cơ quan đã ứng trước kinh phí theo quy định tại khoản 2 điều 9 Nghị định này”. Như vậy, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường gồm hai chủ thể là: cá nhân và tổ chức, cụ thể:
          Một là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường của cá nhân được chia thành:
+ Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ phải tự bồi thường thiệt hại do họ gây ra.
+ Người dưới 18 tuổi là những người không có hoặc không đầy đủ năng lực hành vi, do đó cha mẹ là người bồi thường thiệt hại do con em họ gây ra. Tuy nhiên, đối với người dưới 15 tuổi thì cha mẹ phải dùng tài sản của mình để bồi thường, nếu cha mẹ bồi thường không đủ, con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường. Đối với người từ 15 đến 18 tuổi thì lấy tài sản của con để bồi thường, cha mẹ chịu trách nhiệm bổ sung phần còn thiếu.
+ Người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại trong thời gian ở trường học, bệnh viện quản lí trường học, bệnh viện phải bồi thường. Nếu các tổ chức trên không có lỗi thì cha, mẹ, người giám hộ phải bồi thường.
Hai là, tổ chức gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là các doanh nghiệp, công ty hoạt động sản xuất kinh doanh không có thiết bị xử lí chất thải hoặc công suất không đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất,…dẫn đến ô nhiễm môi trường.
Trong thực tế việc xác định chủ thể phải bồi thường thiệt hại là rất khó khăn vì không chỉ một cá nhân mà có thể là nhiều cá nhân, không phải một tổ chức mà có thể có 2, 3 tổ chức cùng gây ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, pháp luật quy định: “ Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau” ( điều 616 – BLDS 2005 ).
     2. Chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại
Chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại được chia thành 2 nhóm:
Nhóm 1 là: những người bị tổn hại về sức khỏe hoặc là người có quyền sở hữu đối với khối tài sản bị thiệt hại. Người bị tổn hại về sức khỏe hoặc nhân thân của người chết  có quyền đòi bồi thường thiệt hại.
Nhóm 2 là: căn cứ vào điều 17 Hiến pháp 1992 “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”, Nhà nước tổ chức việc quản lí sử dụng dưới hai hình thức:
 Thông qua hệ thống các cơ quan quản lí trực tiếp quản lí và thực hiện giao quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân hoặc tổ chức, cá nhân thuê quyền sử dụng đất. Do đó, cần xác định ai là đối tượng có quyền đòi bồi thường thiệt hại cần được xác định:
+ Một là, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cơ quan trực tiếp quản lí, là đối tượng có quyền đòi bồi thường thiệt hại trong trường hợp thành phần môi trường không được nhà nước giao hoặc cho thuê quyền sử dụng đất.
+ Hai là, thành phần môi trường đã được nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân hoặc tổ chức, cá nhân thuê quyền sử dụng đất thì tổ chức, cá nhân đó là đối tượng có quyền đòi bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp các đối tượng này không thực hiện quyền của mình thì nhà nước là người có quyền đòi bồi thường thiệt hại về môi trường.
Việc xác định chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trên thực tế bởi đây là điều kiện tiền đề xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, từ đó xác định cơ chế đền bù thiệt hại phù hợp.
III. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Căn cứ vào BLDS 2005 và Nghị quyết số 03/2006/ HĐTP – TANDTC ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại.
     1. Có thiệt hại xảy ra
Trong quan hệ bồi thường thiệt hại, thiệt hại và là điều kiện phát sinh trách nhiệm, vừa là cơ sở tính mức bồi thường. Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi mục đích của việc áp dụng trách nhiệm là khôi phục tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại. Do đó, việc xác định có thiệt hại xảy ra hay không, thiệt hại bao nhiêu là rất quan trọng. Vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không có thiệt hại thì không phải bồi thường cho dù có đầy đủ các điều kiện khác.
Thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra không chỉ thiệt hại về về tài sản, sức khỏe và tính mạng con người mà còn gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường, mất cân bằng sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên,…Căn cứ vào các thiệt hại trên, thiệt hại do ô nhiễm môi trường bởi các tổ chức, cá nhân gây ra được chia thành hai nhóm, cụ thể;
Nhóm thứ nhất: thiệt hại được tính thành tiền. Việc xác định thiệt hại là điều kiện mang tính chất tiền đề  của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thiệt hại ở đây là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do xâm phạm đến tài sản, tính mạng, sức khỏe của cá nhân, tổ chức, gồm:
+ Thiệt hại về tài sản: ô nhiễm môi trường làm cho tài sản bị hủy hoại, hư hỏng, thiệt hại gắn liền với việc bị thu hẹp, mất dần những lợi ích gắn liền với việc không sử dụng, không khai thác hoặc làm hạn chế việc sử dụng, khai thác tài sản…chẳng hạn, việc làm ô nhiễm môi trường của công ty A làm cho hoa màu, cây công nghiệp lâu năm của xã B bị chết. Như vậy, nó đã làm hạn chế việc sử dụng cũng như khai thác các loại cây rau màu ngắn ngày hay cây công nghiệp lâu năm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, kinh tế của người dân xã B.
+ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại: bao gồm các chi phí cho việc chăm sóc, viện phí trong quá trình điều trị bệnh tại bệnh viện, chi phí cho tiền thuốc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị gảm sút do thiệt hại về sức khỏe…và các khoản khác khi một cá nhân bị thiệt hại về sức khỏe do môi trường bị ô nhiễm gây ra như các bệnh ung thư, bệnh về đường hô hấp,…
+ Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại: Bao gồm các chi phí chăm sóc, viện phí trong quá trình điều trị bệnh tại bệnh viện, chi phí thuốc, chi phí an táng, cứu chữa, bồi thường cho người thân của người đã chết….
Nhóm thứ hai, là thiệt hại đến môi trường tự nhiên làm suy giảm suy giảm đa dạng sinh học và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, mất cân bằng sinh thái thì cá nhân, tổ chức gây ô nhiễm môi trường có trách nhiệm phải khôi phục môi trường, đưa môi trường về tình trạng ban đầu.
      2. Hành vi gây ô nhiễm môi trường là hành vi trái pháp luật.
Hành vi làm ô nhiễm môi trường luôn được coi là vi phạm pháp luật  do chủ thể có năng lực chủ thể thực hiện. Nếu là tổ chức phải có tư cách pháp nhân, nếu là cá nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Hành vi làm ô nhiễm môi trường có thể được thể hiện dưới dạng hành động hay không hành động.
+ Dưới dạng hành động là: hành vi xả thải chất thải  chưa xử lí ra môi trường, xả rác bừa bãi không đúng nơi quy định,…
+ Dưới dạng không hành động là: không tuân thủ quy trình xử lí rác thải, không xây dựng hệ thống xử lí rác thải…
Hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra thiệt hại, những thiệt hại này được gây ra bởi chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật môi trường và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, chỉ khi nào hành vi gây ô nhiễm môi trường đó gây ra thiệt hại trên thực tế: làm suy giảm môi trường sinh thái, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây thiệt hại về tài sản, sứa khỏe, tính mạng cho tổ chức, cá nhân khác thì trách nhiệm bồi thường mới phát sinh.
     3. Người làm ô nhiễm môi trường có lỗi
Người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Điều 604 – BLDS quy định: “ Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định người phải bồi thường và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức bồi thường. Lỗi được chia ra làm lỗi cố ý và lỗi vô ý.
+ Lỗi cố ý là: trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
+ Lỗi vô ý: là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
     4. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường và thiệt hại xảy ra
          Xác định mối quan hệ nhân quả đó trong trường hợp:
          + Hành vi gây thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường phải là nguyên nhân trực tiếp hoặc đó là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đến thiệt hại trên. Hay nói cách khác, thiệt hại xảy ra do làm ô nhiễm môi trường là kết quả tất yếu của hành vi gây ra thiệt hại.
          + Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ra thiệt hại với thiệt hại xảy ra trong lĩnh vực môi trường khó có thể xác định chính xác là do thiệt hại xảy ra tức thời hay không, hay nó xảy ra từ từ trong một khoảng thời gian dài. Qua đó, việc xác định thiệt hại phải trải qua nhiều bước gồm: xác định mối quan hệ giữa hành vi VPPL môi trường và tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường và xác định mối quan hệ giữa ô nhiễm suy thoái môi trường với những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân.
IV. Cơ chế giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường
     1. Xác định thiệt hại trong lĩnh vực môi trường
Thiệt hại trong lĩnh vực môi trường được chia làm hai loại là:
     + Thứ nhất, thiệt hại đối với môi trường tự nhiên. Đó là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, trong đó chức năng, tính hữu ích của môi trường được thể hiện qua các phương diện chính là: Môi trường chính  là không gian sinh tồn của con người; và môi trường là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, đồng thời, môi trường là nơi chứa đựng và tiêu hủy chất thải do con người thải ra trong các hoạt động của mình. Như vậy, có thể hiểu sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường xảy ra khi: chất lượng của các yếu tố môi trường thấp hơn so với tiêu chuẩn về chất lượng môi trường; lượng tài nguyên thiên nhiên bị khai thác, sử dụng lớn hơn lượng được khôi phục; lượng chất thải thải vào môi trường lớn hơn khả năng tự phân hủy, tự làm sạch của chúng.
          + Thứ hai, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra. “ Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người được thể hiện qua các chi phí để cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi các chức năng bị mất của người bị hại và các khoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe có nguyên nhân từ ô nhiễm, suy thoái môi trường. Thiệt hại về tài sản được thể hiện qua những tổn thất về cây trồng, vật nuôi, những khoản chi phí cho việc sửa chữa, thay thế, ngăn chặn và phục hồi tài sản bị thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên. Còn thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được thể hiện qua sự tổn hại về lợi ích vật chất, sự giảm sút về thu nhập chính đáng mà nguyên nhân là do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường”.
     2. Căn cứ xác định thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
          - Căn cứ vào mức độ chức năng, tính hữu ích của môi trường bị suy giảm ( khoản 1, điều 121 – Luật bảo vệ môi trường ) chia thành:
          + Mức độ ô nhiễm môi trường gồm 3 mức độ: ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng. Điều 92- LBVMT quy định:
1. Môi trường bị ô nhiễm trong trường hợp hàm lượng một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường.
2. Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 3 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên.
3. Môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 10 lần trở lên.
+ Mức độ suy thoái môi trường gồm 3 mức độ dựa trên cơ sở số lượng thành phần môi trường khai thác, sử dụng so với trữ lượng thiên nhiên sẵn có của nó là: suy thoái môi trường, suy thoái môi trường nghiêm trọng, suy thoái môi trường đặc biệt nghiêm trọng.
          - Căn cứ vào phạm vi, giới hạn vùng ô nhiễm bị suy giảm chức năng, tính hữu ích quy định tại khoản 2, điều 131- LBVMT gồm có: Xác định giới hạn, diện tích của khu vực, vùng lõi bị suy giảm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; xác định giới hạn, diện tích vùng đệm trực tiếp bị suy giảm và xác định giới hạn, diện tích các vùng khác bị ảnh hưởng từ vùng lõi và vùng đệm.
          - Xác định thành phần môi trường bị suy giảm căn cứ vào khoản 3, điều 131 – LBVMT:  Xác định số lượng thành phần môi trường bị suy giảm, loại hình hệ sinh thái, giống loài bị thiệt hại và mức độ thiệt hại của từng thành phần môi trường, hệ sinh thái, giống loài.
V. Thực trạng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
 Thực trạng xả thải trái phép gây ô nhiễm môi trường, tại tỉnh Hòa Bình, Công ty cổ phần xi măng Vinaconex Lương Sơn ( Hòa Bình ) và các doanh nghiệp sản xuất đã đóng trên địa bàn hoạt động đã xả khói, bụi ra môi trường xung quanh. Hậu quả là chè và các cây trồng khác xung quanh khu vực này đều không phát triển được, năng suất sụt giảm, thậm chí mất trắng trong khi thu nhập của người dân nơi đây chủ yếu là làm vườn. Bên cạnh đó, người dân sống xung quanh còn cảm thấy ngột ngạt, khó chịu khi nhà máy trên hoạt động và họ đã tiến hành khiếu nại. Công ty xi măng Vinaconex Lương Sơn đã thừa nhận hành vi gây ô nhiễm môi trường của mình và những thiệt hại gây ra do hành vi làm ô nhiễm môi trường. Công ty đã chấp nhận chi trả 631 triệu đồng trong 2 năm 2005 – 2006 trong việc xác định giá trị thiệt hại. Tuy nhiên, theo ý kiến của người dân sống quanh khu vực này, họ cho rằng: việc đền bù chỉ là việc nhẹ và là giải pháp trước mắt không có tính lâu dài mà việc quan trọng công ty trên phải làm là đưa ra những giải pháp làm thay đổi, giảm ô nhiễm môi trường.
Không chỉ có công ty xi măng Vinaconex gây ô nhiễm môi trường mà trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nhà máy Cao su Xà Bang ( thuộc công ty cao su Bà Rịa ) đã có hành vi gây ô nhiễm môi trường kéo dài trong nhiều năm liền. Từ năm 1998, trung bình mỗi ngày nhà máy thải ra môi trường khoảng 1000m3 nước thải/ ngày đêm, làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước sinh hoạt của người dân trong vùng. Do đó, người dân trong vùng đã tiến hành khiếu nại. Trước hành vi gây ô nhiễm môi trường và việc người dân khiếu nại, công ty đã chủ động đàm phán và thỏa thuận đối với các hộ dân bị thiệt hại và đồng ý việc bồi thường thiệt hại với tổng giá trị là 500 triệu đồng. Đồng thời, để góp phần giảm thiểu tình trạng gây ô nhiễm môi trường như thời gian trước đó nhà máy đã đầu tư 10 tỉ đồng để thay đổi công nghệ, một mặt nâng cao năng suất trong quá trình sản xuất, mặt khác nhằm giảm thiết tối đa nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Đây là một giải pháp, hành động hữu hiệu đem lại hiệu quả cao nhất cho quá trình làm sạch, hạn chế các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trong thời gian tới mà không phải cô ty nào cũng tự giác thực hiện.
Trong 2 năm 2006 – 2008 nhà máy cồn Xuân Lộc đã xả nước thải chưa qua xử lí gây thiệt hại nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp tại xã Xuân Tâm. Sau quá trình chứng minh thiệt hại, nhà máy đã chấp nhận bồi thường cho 4 hộ dân  bị thiệt hại với số tiền 47 850 000 đồng, ngoài ra còn nhiều hộ dân khác đang khiếu kiện đòi bồi thường thiệt hại. Tại Nghệ An nhà máy sản xuất bao bì Sabeco – Sông Lam ( Khu công nghiệp Bắc Vinh, TP Vinh , Nghệ An) thường xuyên xả thải chưa qua xử lí ra ngoài gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất của dân cư. Ngày 1-5-2011, 70 người dân xã Đông Hưng đã tiến hành đào đất lấp miệng cống xả của đơn vị này.
     * Vụ án Vedan - sông Thị Vải ô nhiễm - vụ án điển hình nhất về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Với hành vi xả thải chất thải chưa qua xử lí trực tiếp ra môi trường, công ty Vedan đã làm ô nhiễm sông Thị Vải, khoảng 2km chỗ khu vực công nghiệp Mỹ Xuân đã bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng. Theo cách gọi của người dân nơi đây, sông Thị Vải được gọi là “ con sông chết”. Nước sông bị ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng và các chất độc hại kim loại nặng. Giá trị DO thường xuyên dưới 0,5mg/l ( giá trị thấp nhất tại khu vực cảng Vedan là 0,04mg/l ). Thông số N-NH4+ cũng vượt quá tiêu chuẩn Việt Nam cho phép ( loại B ) 5942 – 1995 từ 3 đến 15 lần, giá trị Comlifrom vượt tiêu chuẩn Việt Nam. Khi lấy mẫu nước sông Thị Vải do tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thực hiện phát hiện có sự hiện diện của chì, cadimi và đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Cuối năm 2006, cơ quan chuyên môn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đưa ra kết luận: “ Sông Thị Vải ô nhiễm chì nặng và rất nặng” vượt tiêu chuẩn cho phép 4 đến 5 lần. Theo kết quả khảo sát của Viện Môi trường và Tài nguyên TP HCM cho thấy, mức độ ô nhiễm sông Thị Vải do Công ty Vedan gây ra chiếm 80-90%. Đầu tháng 9/2008, Công ty bột ngọt Vedan bị bắt quả tang xả nước thải không qua xử lý, thẳng ra sông Thị Vải với lưu lượng 44.800 m3/ tháng. Nước sông tại các vùng này bị ô nhiễm nặng nề, nước có màu đen hôi, cá chết hàng loạt ( gần 2.700 ha nuôi trồng thủy sản của khu vực này bị thiệt hại. Tỉnh Đồng Nai có hơn 2.100 ha nuôi trồng thủy sản bị tàn phá bởi nước ô nhiễm, còn TP HCM và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng bị ảnh hưởng gần 600 ha).  Chính vì vậy, con sông nhiều tôm cá, do nước thải chưa qua xử lí từ công ty Vedan chảy vào các đầm, ao làm chết cá, tôm, sú của dân nuôi, thất bát công việc, nhiều gia đình trắng tay. Hiện  công ty Vedan đã nộp khoản tiền phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường trên 267 triệu đồng, đồng thời đã nộp phí truy thu bảo vệ môi trường trốn nộp là gần 80 tỷ đồng. Số còn lại gần 48 tỷ đồng được nộp vào quý 3 và 4 năm 2009 như đã cam kết trước  đó[8].
Số liệu trên mới chỉ đại diện cho một trong số rất nhiều vụ việc được đưa ra giải quyết, ngoài ra còn rất nhiều tổ chức VPPL về môi trường nhưng chưa bị phát hiện và đưa ra giải quyết buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường về hành vi vi phạm của mình. Qua thực tế trên cho thấy, tình hình ô nhiễm môi trường hiện nay ở Việt Nam đang trở nên cấp bách mà nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu ý thức của các công ty, doanh nghiệp vì cái lợi trước mắt mà dang dần tiếp tay hủy hoại môi trường.
     * Nhận xét tình hình đồi bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường
Qua các số liệu trên về thực trạng bồi thường do làm ô nhiễm môi trường của các công ty, doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian qua ta có thấy hầu hết các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại diễn ra trên phạm vi nhỏ của một xã, phường, thị trấn ( trừ vụ hành vi gây ô nhiễm và vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại của công ty Vedan về hành vi xả nước thải gây ô nhiễm sông Thị Vải trong nhiều năm). Như đã cam kết về hành vi vi phạm pháp luật của mình công ty Vedan đã chấp nhận việc bồi thường  thiệt hại  cho 3 địa phương quanh khu vực sông Thị Vải là : Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh. Hầu hết các vụ kiện do làm ô nhiễm môi trường đều liên quan đến thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, còn thiệt hại do môi trường sinh thái  suy giảm, giảm đa dạng sinh học, cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa thấy đưa ra. Tại điều 130 – Luật bảo vệ môi trường  quy định cụ thể các loại thiệt hại làm ô nhiễm môi trường không chỉ về tài sản, tính mạng, sức khỏe mà bao gồm cả:  “ suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường”. Loại thiệt hại này thường gắn với chủ thể là Nhà nước. Một câu hỏi lớn được đưa ra là: phải chăng, là do môi trường tự nhiên chưa bị ô nhiễm hay các thành phần, tính hữu ích trong môi trường chưa được nghiên cứu, kiểm tra trên quy mô lớn để tìm ra các sai phạm, hành vi vi phạm pháp luật để đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện môi trường, đưa môi trường về tình trạng ban đầu.
Phần lớn, các vụ kiện đưa ra đều được giải quyết dưới hình thức hòa giải, thương lượng giữa các bên và có sự chứng kiến của bên thứ  ba ( các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương: Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân huyện,…). Tại điều 133 – Luật bảo vệ môi trường có quy định về ba cách giải quyết gồm: Tự thỏa thuận giữa các bên, yêu cầu trọng tài giải quyết và khởi kiện tại tòa án. Trong ba hình thức giải quyết trên thì thực tiễn cho thấy có đến khoảng 80 – 90% vụ việc được giải quyết về bồi thường thiệt hại được diễn ra dưới hình thức thương lượng, hòa giải đã thành công. Còn lại, khoảng 10% không theo hình thức này chủ yếu là do vụ kiện không đúng, hoặc yêu cầu quá cao mà người gây thiệt hại không thể đáp ứng. Chính vì vậy, để giải quyết một cách hiệu quả và triệt để về tình hình thực trạng bồi thường do làm ô nhiễm môi trường các nhà chức trách, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải kết hợp nhiều biện pháp trong quá trình giải quyết nhằm đạt hiệu quả cao, đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của các công ty, doanh nghiệp hiện nay.
V. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
     1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
a. Trong BLDS cần đưa ra khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng làm cơ sở để xác định các thiệt hại trong từng lĩnh vực cụ thể. Qua đó, các cơ quan có thẩm quyền có thể hiểu rõ và xác định một cách chính xác các trường hợp gây thiệt hại và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
b. Đồng thời, phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường. Tại khoản 1, điều 5 BLTTDS 2004 quy định: “ Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, Tòa án chỉ thụ lí việc giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự, và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.Theo quy định trên, người bị thiệt hại về tính mạng, tài sản, sức khỏe chỉ được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi họ khởi kiện ra tòa bởi họ chỉ được bồi thường khi họ thực hiện quyền khởi kiện. Tuy nhiên, từ thực tế giải quyết những vụ đòi bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường như trên thì việc thực hiện quyền khởi kiện đang là vấn đề còn nhiều tranh cãi, đòi hỏi phải được giải quyết dứt điểm.
+ Với quy định như trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không được đặt ra nếu bên bị hại không thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu bên gây thiệt hại phải bồi thường cho mình. Như vậy, vấn đề đặt ra là: nếu người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản vì lí do nào đó không thể khởi kiện thì đồng nghĩa với đó là họ không được phục hồi những tổn thất về người và tài sản bị xâm hại mà đáng lẽ ra họ có quyền được hưởng do cá nhân hoặc tổ chức nào đó phải gánh chịu do hành vi gây ô nhiễm môi trường của mình. Qua đó, hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức đó sẽ không bao giờ bị tố giác, phát hiện và họ sẽ không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi đó của mình.
+ Mặt khác, trong tình hình thực tế hiện nay phạm vi ô nhiễm môi trường không chỉ ảnh hưởng đến một vùng, một địa phương nhất định mà nó có thể lan trên diện rộng    ( Như vụ kiện đòi bồi thường thiêt hại do làm ô nhiễm môi trường của công ty Vedan làm ảnh hưởng tới ba tỉnh, thành phố gồm: Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh). Vậy trong trường hợp này, không thể áp dụng việc người nào bị thiệt hại muốn bảo vệ quyền lợi của mình thì đi khởi kiện được sẽ gây ra tình trạng quá tải, không thể giải quyết được của cơ quan nhà nước mà cần có người đại diện bị thiệt hại đứng ra tiến hành khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho các cá nhân, tổ chức khác. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là ai sẽ là người đại diện đứng ra để bảo vệ quyền lợi cho các cá nhân, tổ chức khác thực hiện quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại. Đến đây, pháp luật mới chỉ quy định chung chung: “ cơ quan, tổ chức trong phạm vi, nhiệm vụ quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách” ( điều 161 – BLTTDS ), trong khi đó, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản lại là của từng cá nhân riêng biệt, mà không phải thiệt hại của cơ quan, tổ chức nhà nước.
+ Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao lại đưa ra quan điểm rằng: “ cơ quan tài nguyên môi trường có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án buộc cá nhân, cơ quan tổ chức, có hành vi gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại, khắc phục sự cố gây ô nhiễm môi trường công cộng”. Quy định này chỉ đưa ra cơ quan tài nguyên môi trường mà không xác định rõ là Sở tài nguyên và môi trường hay Bộ tài nguyên và môi trường. Mặt khác, tại điều 121 Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định bao gồm: các Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp chứ không phải cơ quan tài nguyên môi trường như theo quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao.
Như vậy, qua các quy định của pháp luật về quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường đã có sự vênh giữa Bộ luật TTDS, Luật bảo vệ môi trường và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao. Các quy định trên, mới chỉ nhìn nhận vấn đề ở một khía cạnh đơn lẻ của từng cá nhân mà chưa tính đến thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường thường là gián tiếp và nó ảnh hưởng tới cả một tổ chức, cộng đồng đông dân cư cùng sinh sống trong khu vực bị ô nhiễm. Pháp luật chưa có sự kết hợp hài hòa giữa quyền khởi kiện của nhà nước, của tổ chức đại diện lợi ích công cộng bị xâm hại đối với quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân, dẫn đến hiệu quả của hoạt động này không cao, gây nhiêu khó khăn cho cơ quan giải quyết.
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là cần có sự thống nhất giữa các quy định của pháp luật về quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại và buộc chủ thể gây ô nhiễm môi trường phải chịu trách nhiệm bồi thường do hành vi của mình gây ra.
c. Hoàn thiện các quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Tại điều 160 BLDS 2005 quy định “ Không áp dụng thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự đối với trường hợp yêu cầu hoàn trả lại tài sản thuộc sở hữu nhà nước; yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân bị xâm hại trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tuy nhiên, tại điều 607 BLDS lại quy định: “ Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm hại”. Với hai quy định trên, vấn đề đặt ra là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe do hành vi gây ô nhiễm môi trường thuộc trường hợp nào?  Một là không áp dụng thời hiệu khởi kiện ( theo điều 160 ), hai là áp dụng thời hiệu khởi kiện là 2 năm ( theo điều 607). Việc áp dụng thời hiệu khởi kiện theo điều 607 – BLDS 2005 đối với trường hợp thiệt hại về tính mạng, sức khỏe phải chăng là còn quá ngắn trong khi sức khỏe con người bị thiệt hại không phải phát hiện được trong thời gian ngắn. Chính những quy định này của pháp luật đã tạo ra một bài toán khó, nhức nhối cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong việc tiếp nhận đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân.
Từ thực tiễn hai quy định trên, pháp luật nước ta trong thời gian tới cần đưa ra một quy định rõ hơn về thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường theo hướng kéo dài hơn thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe.  Đồng thời, pháp luật cần quy định rõ giữa thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe với thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về tài sản.  Qua đó,  “ Pháp luật cần có các quy định mang tính linh hoạt hơn trong lĩnh vực này. Chẳng hạn như người gây thiệt hại đối với môi trường có thể bồi thường một lần hoặc nhiều lần trong khoảng thời gian tối đa một số năm nhất định nào đó kể từ ngày áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại”[10].
Như vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, tiến tới xây dựng Bộ Luật Môi trường, hình thành hệ thống các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành theo hướng thống nhất, công bằng, hiện đại và hội nhập, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, không rõ trách nhiệm và thiếu khả thi. Hệ thống pháp luật về môi trường phải tương thích, đồng bộ trong tổng thể hệ thống pháp luật chung của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
       2. Nâng cao năng lực hoạt động của cơ quan quản lí nhà nước về môi trường
- Đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ quản lí về môi trường như: tập huấn nghiệp vụ chuyên môn về quản lý môi trường về kỹ năng phối hợp trong hoạt động quản lý nhà nước về môi trường” dành cho các cán bộ lãnh đạo nhằm trang bị thêm cho các cán bộ công chức, viên chức các kỹ năng phối hợp trong hoạt động quản lý nhà nước, kỹ năng phân tích, mô tả vị trí việc làm, kỹ năng tổng hợp  và xây dựng báo cáo trong quá trình thực thi công vụ. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng cần được trang bị để tiến hành một cách chuẩn xác nhất trong quá trình QLNN về bảo vệ môi trường.
 - Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý quyết liệt, giải quyết dứt điểm các vụ việc về môi trường, các vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. Cần tạo bước chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức sang hành động cụ thể nhằm phát hiện kịp thời các trường hợp VPPL về môi trường để có những biện pháp xử lí. Qua đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ QLMT, đồng thời  làm cho pháp luật trở nên nghiêm minh, tạo cơ sở vững chắc đểcán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
- Đưa ra các hình thức xử phạt nặng đối với những cán bộ suy đồi đạo đức, đi ngược lại chủ trương của nhà nước nói chung và của pháp luật về môi trường nói riêng. Cần có những biện pháp răn đe nghiêm khắc, nhằm bồi dưỡng đạo đức, lương tâm nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ hướng về lẽ phải, bảo vệ công lí.
          - Quy hoạch, quản lý đưa ra giải pháp xây dựng chiến lược bảo vệ, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên quan trọng đối với phát triển đất nước. Thiết lập cơ chế quản lý, giám sát minh bạch, bảo đảm sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốc gia.
      3. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân nhất là đối với các đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.
          - Đưa ra các hình thức xử phạt chặt chẽ, nghiêm ngặt, đúng  quy định pháp luật, mang tính chất răn đe, tạo hành lang pháp lí vững chắc làm cơ sở để các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình.
- Tuyên truyền về bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động như: nhà nước có các giải thưởng, hình thức khen thưởng về bảo vệ môi trường cho tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động bảo vệ môi trường; tổ chức các hình thức tìm hiểu về bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường của người dân.
- Giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường, cần đưa kiến thức về bảo vệ môi trường ăn sâu vào tiềm thức, ý thức của các cá nhân, tổ chức ở mọi lúc, mọi nơi nhằm xây dựng một môi trường xanh, sạch, đẹp để bảo vệ môi trường, cũng chính là bảo vệ sức khỏe, cuộc sống con người.
C – KẾT LUẬN