Hiển thị các bài đăng có nhãn LÍ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LÍ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Thiết chế xã hội

Thiết chế xã hội 

 Thiết chế xã hội là một tập hợp các vị thế và vai trò có chủ định nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội quan trọng. Khái niệm thiết chế xã hội là khái niệm quan trọng và được dùng rộng rãi trong xã hội học. Cũng giống như nhiều khái niệm khác của xã hội học, nội hàm của thiết chế xã hội cũng chưa được xác định một cách rõ ràng. Sự nhầm lẫn phổ biến nhất là việc đồng nhất thiết chế xã hội với một nhóm thực, tổ chức thực nào đó. Lý do của sự nhầm lẫn này là mặc dù khái niệm thiết chế xã hội rất trừu tượng, nhưng bản thân thiết chế lại hữu hình (tương tự như nhóm xã hội, tổ chức xã hội).
Thực chất nhóm xã hội, tổ chức xã hội là một tập hợp người được liên kết với nhau bởi các dạng quan hệ xã hội. Các quan hệ xã hội này được hình thành từ những tương tác thường xuyên, ổn định, lâu dài, có định hướng. Trong quá trình tương tác này các khuôn mẫu hành vi, vai trò được thiết kế hóa, tức là biến thành các thiết chế. Như vậy các nhóm, các tổ chức hay bản thân từng cá nhân chỉ là như những tập hợp người thực hiện các thiết chế mà thôi, chứ không phải là chính thiết chế.
Nhà xã hội học người Mỹ J. Fichter cho rằng, thiết chế xã hội chính là một đoạn của văn hóa đã được khuôn mẫu hóa. Những khuôn mẫu tác phong của nền văn hóa đó được xã hội đồng tình, khuyến khích sẽ có xu hướng trở thành các mô hình hành vi được mong đợi - các vai trò. Do đó, thiết chế xã hội là một tập hợp các khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận (các vai trò) nhằm thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của nhóm xã hội.

Nguyên nhân tạo ra thiết chế xã hội 

Các nhà xã hội học đều cho rằng thiết chế xã hội nảy sinh, tồn tại và phát triển là do nó đáp ứng nhu cầu xã hội. Nhu cầu xã hội là nguyên nhân hình thành, đồng thời nó cũng là mục đích tồn tại của thiết chế xã hội. Tất cả mọi xã hội bao giờ cũng có những nhu cầu cơ bản, mà việc thỏa mãn chúng có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của bản thân xã hội. Các nhu cầu xã hội cơ bản như sau:
 Giao tiếp giữa các thành viên;
Sản xuất và sản phẩm dịch vụ;
 Phân phối các sản phẩm và dịch vụ hàng hóa
; Thiết chế xã hội
Bảo vệ các thành viên khỏi tác động của thiên nhiên, bệnh tật và nguy hiểm khác;
 Thay thế các thành viên (cả tái sinh sản sinh học) và thay thế văn hóa thông qua quá trình xã hội hóa;
 Kiểm soát hành vi của các thành viên.
 Những cố gắng được tổ chức lại nhằm thỏa bãn các nhu cầu đó chính là các thiết chế cơ bản.

 Đặc trưng của thiết chế xã hội 

Mỗi thiết chế đều có mục đích nhằm thỏa mãn những nhu cầu xã hội. Sự nảy sinh thiết chế xã hội là do điều kiện khách quan nhất định, biểu hiện ở tính thống nhất với cơ sở kinh tế - xã hội. Bản thân của thiết chế xã hội có sự độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với cơ sở kinh tế - xã hội. Tính không hiệu quả của các thiết chế xã hội, sự tác động không hài hòa của chúng, việc chúng không có khả năng tổ chức các lợi ích xã hội, không thu xếp được một cách đúng theo trật tự sự vận hành của các mối liên hệ xã hội là dấu hiệu nói lên sự khủng hoảng của xã hội. Để khắc phục tình trạng này, cần phải cải tiến cơ bản bản thân các phương thức và cơ chế hoạt động của chúng.
Thiết chế xã hội được tổ chức thành cơ cấu. Các yếu tố tạo thành thiết chế xã hội có khuynh hướng kết hợp lại với nhau và hỗ trợ lẫn nhau. Khi thiết chế xã hội càng phức tạp, thì xã hội càng phát triển, và như vậy nó xác định vị trí, vai trò của cá nhân càng rõ ràng. Mỗi một thiết chế xã hội có một đối tượng riêng để hướng tới phục vụ, nhằm đáp ứng các nhu cầu xã hội chuyên biệt liên quan tới đối tượng. Để đạt được điều đó mỗi thiết chế lại có một chức năng. Mỗi một thiết chế tự nó được cấu trúc ở mức cao và được tổ chức xung quanh hệ thống các giá trị, chuẩn mực, quy tắc, khuôn mẫu đã được xã hội thừa nhận.

Chức năng của thiết chế xã hội 

Chức năng cơ bản
Điều hòa xã hội;
 Kiểm soát xã hội.
Các chức năng của các thiết chế xã hội được thực hiện thông qua các nhiệm vụ:
Thiết chế xã hội vốn là những mô hình hành vi được đa số thừa nhận là chuẩn và thực hiện theo, do đó các cá nhân sẽ không mất thời gian để suy tính, đắn đo xem cách thức hành động đó là đúng hay sai để thực hiện hay không thực hiện. Nói cách khác, thiết chế đã đơn giản hóa tác phong hành động, lề lối tư duy của cá nhân. Mọi thành viên hành động theo thiết chế một cách tự động hóa.
Thiết chế xã hội cũng là tập hợp các vai trò đã được chuẩn hóa
- Đó chính là các vai trò mà mọi cá nhân cần phải học để thực hiện thông qua quá trình xã hội hóa. Nghĩa là, thiết chế cung cấp cho cá nhân những vai trò có sẵn.
Ví dụ, thiết chế gia đình cung cấp cho cá nhân những vai trò bố mẹ, con cái,...;
thiết chế giáo dục cung cấp cho cá nhân các vai trò thầy, học sinh,... chứ không phải do cá nhân sáng tạo nên các vai trò này.
 Thiết chế xã hội là yếu tố phối hợp và ổn định cho toàn thể nền văn hóa.
 Nhìn chung, cá nhân ít khi hành động ngược lại các thiết chế; bởi lẽ, cung cách tư duy và phong cách hành động đã được thiết chế hóa có ý nghĩa quan trọng đối với con người.
Thiết chế mang lại cảm giác yên tâm và an toàn cho các thành viên tuân thủ nó, vì nó chính là cái mà xã hội cho là đúng, là chuẩn
 - thực hiện theo nó tức là thực hiện theo đám đông, chỉ những thành viên không thực hiện mới cảm thấy bất an vì bị xã hội lên án. ví dụ, đại đa số "trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng" là việc làm hết sức bình thường - đó là một thiết chế.
 Thiết chế xã hội luôn bao gồm những mong đợi của xã hội. Nhờ có những mong đợi này của thiết chế mà cá nhân biết được mình sẽ phải hành động và suy nghĩ thế nào trước những người khác. Trường hợp thiết chế xã hội thực hiện các chức năng điều hòa và kiểm soát xã hội không đúng cách thức có thể dẫn đến các tác động tiêu cực đối với xã hội - khi sự điều hòa và đặc biệt là, sự kiểm soát của thiết chế quá mạnh sẽ triệt tiêu mọi sự sáng tạo của cá nhân, đồng thời thiết chế sẽ mang tính bảo thủ. Tính bảo thủ này thể hiện ở chỗ nó cố gắng duy trì những khuôn mẫu tác phong đã lạc hậu, lỗi thời. Các thiết chế này sẽ cản trở sự tiến bộ của xã hội. Nhưng, khi sự kiểm soát và điều chỉnh các quan hệ xã hội quá yếu của thiết chế có thể dẫn tới tình trạng các cá nhân, nhóm xã hội không thực hiện tốt vai trò, thậm chí trốn tránh trách nhiệm của mình. Kết quả là hoạt động từng phần hoặc toàn bộ xã hội bị đình trệ. Giữa các thiết chế đôi khi có xảy ra sự di chuyển chức năng. Sự di chuyển đó xảy ra khi xuất hiện một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau: Thiết chế không đáp ứng được nhu cầu; Các thiết chế đều có khả năng đáp ứng được yêu cầu, nhưng một trong số đó nổi trội hơn, có khả năng đáp ứng ở mức cao hơn so với các thiết chế khác.

Các loại thiết chế xã hội 

Căn cứ để phân loại
Tính phổ quát của thiết chế; Sự cần thiết của thiết chế;
Tầm quan trọng của thiết chế.
Căn cứ vào ba đặc điểm trên, các nhà xã hội học chia các thiết chế xã hội thành hai loại:
 Thiết chế chủ yếu - thiết chế cần thiết nhất cho xã hội và được coi là quan trọng nhất cho lợi ích cá nhân và xã hội, và bao gồm các thiết chế sau:
Thiết chế gia đình;
 Thiết chế giáo dục;
Thiết chế kinh tế;
Thiết chế chính trị;
Thiết chế tôn giáo. Thiết chế phụ thuộc - những thiết chế nhỏ bé và khác biệt nhau, nằm trong thiết chế chủ yếu

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016

Tình hình vi phạm pháp luật ( VPPL) của thanh, thiếu niên Việt Nam hiện nay và các biện pháp phòng chống





A, MỞ ĐẦU
               Tình hình vi phạm pháp luật lứa ở tuổi thanh, thiếu niên có xu hướng “ gia tăng và trẻ hóa” ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là một trong những vấn đề nóng bỏng và được cả xã hội quan tâm. Nó đã trở thành một vấn đề cấp thiết đòi hỏi các nhà chức trách phải vào cuộc để ngăn chặn, phòng ngừa, làm giảm tới mức tối thiểu các hành vi vi phạm pháp luật của thanh, thiếu niên trong xã hội hiện nay. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin trình bày về: Tình hình vi phạm pháp luật ( VPPL) của thanh, thiếu niên Việt Nam hiện nay và các biện pháp phòng chống.
B, NỘI DUNG
       I, Cơ sở lí luận                                                                                            
             Trước hết để hiểu rõ về tình hình VPPL của thanh, thiếu niên ở Việt Nam hiện nay chúng ta cần hiểu VPPL là gì? Vi phạm pháp luật gồm những dấu hiệu nào? Cũng như việc tìm hiểu nhiều vấn đề khác của vi phạm pháp luật.
             VPPL là: hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
            VPPL gồm các dấu hiệu cơ bản sau:
               + Thứ nhất, là hành vi của con người. VPPL trước hết phải là hành vi của con người hoặc là hoạt động của cơ quan nhà nước,…có tính nguy hiểm cho xã hội.
               + Thứ hai, là hành vi trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật là hành vi thực hiện không đúng với những quy định của pháp luật như: thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm,…
               + Thứ ba, nó không chỉ là hành vi trái pháp luật mà còn phải là hành vi chứa lỗi của chủ thể. Mọi VPPL đều là hành vi trái pháp luật, nhưng không phải mọi hành vi trái pháp luật đều là VPPL. Chỉ những hành vi trái pháp luật nào có lỗi mới bị coi là VPPL.
            + Thứ tư, VPPL phải là hành vi trái pháp luật có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện. Năng lực trách nhiệm pháp lí là khả năng tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Nó được xác định dựa vào 2 yếu tố là: độ tuổi và khả năng tự nhận thức, điều chỉnh hành vi của mình.
         VPPL  được cấu thành bởi các yếu tố: mặt chủ quan của VPPL, mặt khách quan của VPPL, chủ thể và khách thể của VPPL.
         VPPL được chia thành các loại là:
           + Một là, căn cứ vào đối tượng bị xâm hại chia vi phạm pháp luật thành: Vi phạm pháp luật lao động, vi phạm pháp luật về tài chính,…
           + Hai là, căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật có thể chia vi phạm pháp luật thành: tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.
           + Ba là, căn cứ vào tính chất, đặc điểm của chủ thể, khách thể vi phạm pháp luật, chia vi phạm phạm pháp luật thành: tội phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm kỉ luật nhà nước.
           II, Tình hình VPPL của TTN Việt Nam hiện nay
            Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì tình hình tội phạm là TTN diễn biến ngày càng phức tạp. Theo số liệu thống kê của VKSNDTC trẻ em dễ mắc phải những tội như: giết người,cướp của, vận chuyển ma túy. Tuy nhiên Đại tá Hồ Thanh Đình, Phó tổng Cục trưởng Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và Hỗ trợ Tư pháp (TCVIII) tội phạm TTN đã nhúng tay vào hầu hết các hình thức phạm tội của người lớn. Theo thống kê của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội ( PC14)- Công an Quảng Nam, gần đây tội phạm trong lứa tuổi TTN  ngày càng tăng với tội danh: cướp giật, trộm cắp, đánh nhau,…cá biệt một số trường hợp giết người. TTN đã nhúng tay vào các loại tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng: giết người, hiếp dâm,..Đáng báo động là tính chất, hành vi vi phạm ngày càng táo bạo, nghiêm trọng hơn. 
          1,VPPL ở lứa tuổi TTN có xu hướng ngày một tăng nhanh.
            Qua số liệu thống kê về số lượng phạm tội là TTN trên địa bàn cả nước có một thực tế đáng buồn là: tình hình vi phạm ngày càng gia tăng, cụ thể: năm 2009, trên địa bàn cả nước có 12.225 ( 34,5%) đối tượng vi phạm của cả nước. Đến năm 2010, con số này đã tăng nên nhanh chóng là 13.572 ( 40%),  không dừng lại ở đó số lượng vi phạm gia tăng mạnh trong năm 2011 là 16.500. VPPL do TTN thực hiện có nhiều biến động, theo hướng ngày càng phức tạp hơn. Số người vi phạm và số vụ việc không còn đơn giản mà có xu hướng tăng lên khá nhanh. Để minh chứng đầy đủ cho điều này em xin đưa ra những con số về số người bị xử lí VPPL trong những năm gần đây.
Số liệu thống kê của công an các địa phương số người bị xử lí VPPL năm 2010-2011
Năm
Số người bị xử lí
Thanh, thiếu niên
Tỉ lệ (%)
2010
88147
4625
5,2
2011
65161
5297
8,1
             ( Nguồn: Thống kê xét xử hình sự năm 2010-2011 của TANDTC)
     Số TTN VPPL hình sự bị khởi tố, truy tố, xét xử trong 5 năm ( từ 2003- 2007)
Năm
Khởi tố
Truy tố
Xét xử
2003
4578
3260
2940
2005
6420
4172
3404
2007
8394
5889
5247
                                      ( Nguồn: VKSNDTC)
            VPPL do TTN thực hiện có nhiều biến động: Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, trong 6 tháng đầu năm 2011, Tổng cục đã xử lí 15.000 vụ phạm pháp hình sự, xử lí trên 22.000 đối tượng trong đó có 75% là TTN. Riêng hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung nhiều TTN từ các tỉnh thành khác về học tập, tình hình TTN phạm pháp chiếm phần lớn trong tổng số vụ việc VPPL. Theo số liệu thống kê của cơ quan tư pháp. Tỉ lệ TTN vi phạm chiếm khoảng 50% số các vụ việc vi phạm ( ở Hà Nội). Ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 có 702 vụ vi phạm pháp luật do TTN gây ra  (chiếm 18,82%) với 1.156 đối tượng ( chiếm 23,69%) trong tổng số 3.730 vụ vi phạm hình sự được Công an thành phố khám phá. Năm 2010. Có 1.235 đối tượng dưới 18 tuổi ( chiếm 24,77%), 2.735 đối tượng tuổi từ 18-30 ( chiếm 54,86%) trong tổng số 4.985 đối tượng bị Công an bắt và xử lí.
           2, Tính chất, mức độ vi phạm của TTN gây ra ngày càng tinh vi với chiều hướng ngày một nghiêm trọng, thậm chí là đáng báo động.
              Các tội phạm thực hiện có tính chất rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, kể cả những tội phạm giết người, hiếp dâm, buôn bán ma túy, cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài xản,…có xu hướng ngày càng tăng. Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội thì tình hình tội phạm giết người ngày càng tăng lên, nguy hiểm và đáng báo động là trong thời gian gần đây nhiều đối tượng thực hiện tội phạm giết người lại rơi vào một số bị can, bị cáo có tuổi đời còn rất trẻ với số lượng không ngừng tăng lên. Phải chăng đó chính là dấu hiệu đã đến lúc phải báo động về việc giá trị đạo đức của một bộ phận TTN đã bị xuống cấp nghiêm trọng.Thực trạng này đang là nỗi lo cho toàn xã hội trong việc quản lí, giáo dục TTN.
       Bên cạnh các hành vi phạm tội thì thủ đoạn phạm tội không còn đơn giản, thiếu suy nghĩ do tuổi đời non trẻ mà nó đã có sự tính toán trước, chuẩn bị kĩ càng, tinh vi thậm chí hình thành một băng nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao cho toàn xã hội. Vụ án Trần Quang Đức “là học sinh lớp 11 trường Triệu Sơn 2, Trần Quang Đức 17 tuổi trú tại xã Tân Ninh- Triệu Sơn vì ham nghiện lô đề, nghiện game hết tiền nảy sinh ý định trộm cướp, bị chủ nhà phát hiện. Đức ra tay sát hại thai phụ mang thai 5 tháng tuổi bị chém 27 nhát vào người dẫn đến tử vong”. Thực trạng này nói lên việc giáo dục, quản lí TTN ở nước ta vẫn còn rất lỏng lẻo tạo nên kẽ hở lớn cho họ thực hiện hành vi VPPL của mình.
        3,Tính đa dạng trong các hành vi VPPL của TTN.
            +  Nhóm các hành vi xâm phạm sở hữu, an toàn trật tự: “Theo thống kê từ hội thảo về chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2011-2012 do bộ Lao động – Thương binh và xã hội tổ chức tại Đà Nẵng ( diễn ra từ 16 đến 18-8-2011) cho thấy chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 2010 đã có gần 60 vụ giết người, và hơn 200 vụ cướp do trẻ em gây ra. Trong 3 tháng đầu năm 2011 trên phạm vi cả nước các băng nhóm TTN sử dụng vũ khí gây ra 107 vụ xô xát, tăng 51 vụ so với cùng kì năm 2010, chiếm 34% so với tổng số vụ phạm pháp gây ra trên phạm vi cả nước”. Không dừng lại ở đó, trong 6 tháng đầu năm 2012 ở Quảng Ngãi đã xảy ra 324 vụ ( tăng 10 vụ so với cùng kì năm 2011), chết 8 người, bị thương 90 người, mất 274 chỉ vàng,…Tình hình băng, nhóm tội phạm lứa tuổi TTN diễn biến rất phức tạp, nhóm có biểu hiện hoạt động bảo kê, đòi nợ thuê, sử dụng hung khí nguy hiểm để gây án. Đây mới chỉ dừng lại ở thống kê của một tỉnh, thử hỏi nếu với con số này mà nhân lên trong phạm vi cả nước thì nó sẽ ra sao? Trật tự xã hội sẽ như thế nào nếu những con số này tiếp tục gia tăng với cường độ mạnh?
            + Nhóm các hành vi vi phạm trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông: Một thực tế nhận thấy rõ nhất hiện nay là tình trạng đua xe trái pháp đang diễn ra hoành hành trên phạm vi cả nước. Theo báo cáo của Công an thành phố Hồ chí Minh cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2010, số vụ tụ tập đua xe trái phép điển hình ở thành phố Hồ Chí minh đã bị xử lí là 136 vụ, tăng 88 vụ so với cùng kì năm 2009”. Tình hình vi phạm giao thông được thể hiện rõ qua số liệu thống kê tại các quận nội thành: Ba Đình, Đống Đa, Hoàn Kiếm, là những quận có số lần vi phạm nhiều nhất, mỗi quận có hơn một nghìn trường hợp vi phạm “ toàn thành phố có hơn 200 vi phạm là học sinh phổ thông dưới 18 tuổi, gần bốn nghìn người vi phạm nằm trong độ tuổi 18-30. Đặc biệt sau một tuần triển khai luật giao thông, Đội cảnh sát giao thông số 1, Phòng cảnh sát giao thông thành phố Hà Nội xử lí 1.050 trường hợp vi phạm, tạm giữ 146 xe máy. Trong đó 30 trường hợp học sinh phổ thông bị lập biên bản xử lí”. Như vậy, tình hình vi phạm giao thông trên địa bàn cả nước ở lứa tuổi TTN ngày càng tăng nhanh. Những hành vi này chỉ có thể được thực hiện ở những con người thiếu ý thức pháp luật, không tôn trọng pháp luật, coi thường kỉ cương phép nước.
              + Nhóm tham gia vào các tệ nạn xã hội: ma túy, mại dâm gia tăng với cường độ mạnh, cụ thể: “Ngày 30-4-2011, Công an thành phố Hải Phòng phát hiện và bắt giữ 16 đối tượng dụng trái phép chất ma túy, trong đó có 6 đối tượng là học sinh phổ thông”. Không dừng lại ở đó, lứa tuổi TTN do không hiểu biết hay vì lí do nào đó mà các bạn lại tham gia vào tệ nạn mại dâm. “Theo báo cáo tổng hợp từ cục phòng chống tệ nạn ( Bộ Lao động – Thương binh và xã hội) năm 2008 đối tượng gái bán dâm dưới 18 tuổi chiếm 14%, từ 18-25 tuổi chiếm 42%, từ 25-35 tuổi chiếm 35%. Một thực tế đáng buồn và lo ngại năm 2011 số lượng bị cáo phạm tội về mại dâm có xu hướng tăng” nhóm phạm tội này không còn hi hữu mà thực sự đang là nỗi lo của toàn xã hội.
           4, TTN  VPPL đang có xu hướng “trẻ hóa”, tập hợp thành băng nhóm cùng hoạt động với cơ cấu thay đổi và ngày càng lan rộng.
              Ở lứa tuổi TTN tham gia vào băng nhóm các bạn thể hiện “ bản lĩnh và độ sương gió của mình”, muốn thể hiện mình trước mặt người khác nhưng cái thể hiện đó lại là VPPL, cụ thể:
         + Về độ tuổi VPPL có cơ cấu cụ thể: từ 14 đến giữa 16 tuổi chiếm 32%, dưới 14 tuổi chiếm 8%, và chiếm tỉ lệ cao nhất tới 60% ( từ 16 tuổi trở lên). Qua số liệu trên cho thấy, số TTN VPPL đang có xu hướng “ trẻ hóa” ở những người có độ tuổi thấp nhưng đã thực hiện những hành vi VPPL  gây nguy hiểm cho toàn xã hội.
           + Về cơ cấu địa bàn hoạt động: nếu như trước kia địa bàn hoạt động của tội phạm chủ yếu diễn ra ở những thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh,…với các tội như trộm cắp, cướp tài sản,…Nhưng hiện nay cơ cấu địa bàn hoạt động của tội phạm đã lan rộng ra cả nước từ nông thôn đến thành phố lớn. Chúng hoạt động rộng khắp các tỉnh, thành trong cả nước với nhiều tội danh gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội của đất nước.
           Qua các số liệu trên ta thấy được tình hình VPPL hình sự chiếm tỉ lệ cao nhất ( 75%) chủ yếu ở lứa tuổi từ 16-18 ( 60%). Trong loại vi phạm này số vụ vi phạm có xu hướng giảm nhưng nghiêm trọng hơn là tính chất và mức độ vi phạm ngày càng gia tăng và trẻ hóa. Điều đó phản ánh một thực trạng đáng buồn rằng: giá trị đạo đức của họ đang bị xuống cấp trầm trọng, họ tham gia vào các hành vi phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng làm mất thuần phong mỹ tục của dân tộc, truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. Đồng thời, nó đe dọa, làm hỏng một bộ phận TTN nước ta hiện nay, làm cho giá trị đạo đức của xã hội ngày càng đi xuống, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của đất nước sau này bởi họ là chủ nhân tương lai của đất nước.
       III, Nguyên nhân VPPL
              Qua các số liệu thống kê về tình hình vi phạm pháp luật của TTN ta cũng phần nào biết được nguyên nhân của nó, đấy có thể là nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân các chủ thể đó. Các bạn muốn thử trải nghiệm cuộc đời nhưng không may bị kẻ xấu lợi dụng dẫn đến xa vào các tệ nạn xã hội. Đặc biệt đây là thời kì tâm lí các bạn thiếu ổn định, xốc nổi, thích độc lập và thích khẳng định mình. Điều này dẫn đến thái độ sống không đúng đắn, dẫn đến các hành vi xấu của họ. Hoặc đó có thể là nguyên nhân khách quan từ phía gia đình: bố mẹ mải làm ăn mà quên đi nhiệm vụ quan trọng của mình là chăm sóc, giáo dục các con hoặc ngay trong gia đình có sự phân biệt đối xử, bạo lực gia đình làm các em bị ảnh hưởng dẫn đến bỏ nhà đi lang thang để thoát khỏi môi trường thù nghịch, nơi họ không nhận được tình yêu thương, hoặc nơi làm trầm trọng những xung đột để từ đó họ muốn được độc lập, muốn được tôn trọng bằng cách thể hiện mình qua các hành động VPPL.
     IV, Biện pháp phòng chống
        Để ngăn ngừa và phòng tránh tình trạng gia tăng VPPL của TTN trong thời đại ngày nay chúng ta cần đưa ra những giải pháp thích hợp:              
         Thứ nhất, từ phía gia đình: mỗi gia đình tự xây dựng môi trường gia đình bền vững, hạnh phúc, duy trì gia đình hòa thuận, có sự bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình. Đặc biệt các bậc phụ huynh không được phân biệt đối xử giữa các con, đấy là một trong những nguyên nhân đẩy các con tới tình trạng thấy thiệt thòi, bất công mà xa vào các tệ nạn xã hội. Đồng thời, cha mẹ cùng các thành viên khác trong gia đình phải gương mẫu trong các hành vi ứng xử hàng ngày, không thực hiện các hành vi VPPL. Ở lứa tuổi mới lớn, tâm lí các em còn diễn biến phức tạp, do đó cha mẹ phải thường xuyên quan tâm, chăm sóc, quản lí tốt con cái, luôn luôn động viên, không nên tạo ra áp lực quá lớn trong quá trình học tập làm họ dẫn tới chán nản, muốn tìm cảm giác mới trong những thú vui tử thần.
        Thứ hai, từ phía nhà trường: phải thực hiện tốt công tác quản lí học sinh, sinh viên, chống thất học, bỏ học bằng các biện pháp giảng dạy, tăng giờ thảo luận, trao đổi, giải quyết những vấn đề liên quan đến thực tế. Đồng thời, nhà trường phải thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ giáo dục và đào tạo về học phí cũng như những hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với đối tượng là học sinh, sinh viên của trường VPPL. Một biện pháp được coi là thực tế và hiệu quả nhất là nhà trường nên tổ chức các buổi ngoại khóa nhằm tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật nhằm tăng cường kĩ năng sống và hướng nghiệp cho các em.
              Thứ ba, để giảm tình trạng VPPL thì ngay chính bản thân mỗi TTN cũng phải có ý thức pháp luật, tự trang bị cho mình một kĩ năng sống, có lập trường vững vàng để không xa vào các tệ nạn xã hội. Các bạn hãy tự phấn đấu là một người con ngoan trong gia đình, một trò giỏi trong nhà trường và phấn đấu vì mục tiêu cao cả là trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội. Khi đó các bạn sẽ thấy cuộc sống này rất có ý nghĩa và đang cần những người như chúng ta – những chủ nhân tương lai của đất nước.
                Thứ tư, nhà nước và xã hội cũng cần quan tâm hơn đếnTTN trong xã hội hiện nay để có biện pháp giáo dục, răn đe cho phù hợp.                                                 
               + Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, vận động toàn dân tham gia phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn xã hội, nhất là trong công tác giáo dục nhân cách, văn hóa cho TTN.
               + Điều tra, xử lí nghiêm khắc những hành vi VPPL, truy bắt đối tượng bị truy nã. Phát động phong trào toàn dân lên án, tố giác tội phạm. Tăng cường kiểm tra, giám sát, quản lí các cơ sở kinh doanh văn hóa, không để cho văn hóa phẩm đồ trụy xâm nhập vào tâm hồn, lối sống của TTN.
               + Cùng với việc ổn định và phát triển kinh tế, cần hạn chế và khắc phục những mặt trái của nền kinh tế thị trường như: việc du nhập các trò chơi mạo hiểm, những đồ chơi mang tính bạo lực,… làm các em dễ bị nhuốm màu bạo lực từ những trò chơi đó và muốn thử nhiệm trong cuộc sống dẫn đến các hành vi VPPL gây nguy hiểm cho xã hội.
               + Phát hiện những TTN có nhiều khả năng, điều kiện dẫn đến hoạt động phạm tội, tệ nạn xã hội ở từng gia đình, địa phương để có biện pháp giáo dục, giúp đỡ phù hợp.
                                                    
                                                       C, KẾT LUẬN
              Cùng với sự phát triển của kinh tế, đất nước thì tình hình VPPL ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp và có xu hướng trẻ hóa ở lứa tuổi TTN gây hậu quả xấu cho xã hội, làm hỏng một thế hệ trẻ trong tương lai. Chính vì vậy, thông qua bài làm này em nhận thấy, mỗi người chúng ta nhất là lứa tuổi TTN cần tự mình nâng cao ý thức pháp luật, tham gia tìm hiểu pháp luật để có một khối kiến thức nhất định về pháp luật từ đó nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng và đề cao pháp luật góp phần làm cho xã hội ổn định, đất nước phát triển.